Tin tức
Án kinh tế: Phải cân nhắc lỗi của các bên
Hai bên thỏa thuận bị đơn trả toàn bộ lãi phát sinh nhưng trong biên bản hòa giải, tòa không ghi nhận mà lại tự thêm là xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

 Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự không đúng với nội dung đã thỏa thuận, có thiếu sót trong việc xác định lỗi của các bên… là các sai sót mà Tòa Kinh tế TAND Tối cao rút kinh nghiệm đối với các tòa địa phương.

Trước đây, Công ty TNHH GVN vay của chi nhánh một ngân hàng ở tỉnh Vĩnh Phúc hơn 10 tỉ đồng, đã trả nợ được hơn 1,5 tỉ đồng, còn nợ gốc hơn 9 tỉ đồng và lãi hơn 1 tỉ đồng. Sau đó, Công ty GVN vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên bị phía ngân hàng khởi kiện ra TAND tỉnh Vĩnh Phúc.

Thỏa thuận một đằng, ra quyết định một nẻo

Tại phiên hòa giải ngày 26-8-2009, phía ngân hàng yêu cầu Công ty GVN trả toàn bộ số nợ trên vào ngày cuối cùng là 30-9-2009, đồng thời phải trả lãi phát sinh từ ngày 10-6-2009 cho đến khi trả hết nợ. Công ty GVN đồng ý. Sau đó, TAND tỉnh Vĩnh Phúc đã lập biên bản hòa giải thành, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Sau khi quyết định này có hiệu lực pháp luật, phía ngân hàng và TAND tỉnh Vĩnh Phúc đã có văn bản đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm vì cho rằng nội dung của quyết định không đúng thực tế mà các đương sự đã thỏa thuận. Nhận thấy văn bản đề nghị có căn cứ, chánh án TAND Tối cao đã kháng nghị giám đốc thẩm. Tiếp đó, Tòa Kinh tế TAND Tối cao đã xử giám đốc thẩm, hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm giải quyết lại.

Theo Tòa Kinh tế, trong biên bản hòa giải ngày 26-8-2009, phía ngân hàng có yêu cầu Công ty GVN trả toàn bộ lãi phát sinh từ ngày 10-6-2009 đến khi trả hết nợ. Công ty GVN cũng đồng ý nhưng trong biên bản hòa giải, tòa sơ thẩm không ghi nhận nội dung này mà lại tự thêm là “xử lý toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ”. Ngoài ra, tòa sơ thẩm xác định nguyên đơn là chi nhánh ngân hàng ở tỉnh Vĩnh Phúc là không đúng mà phải xác định nguyên đơn là ngân hàng mẹ.

Liên quan đến việc thỏa thuận của các đương sự, Tòa Kinh tế còn rút kinh nghiệm chung là trong một số trường hợp khác, khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì tòa phải lập biên bản hòa giải thành. Biên bản này phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự. Các trường hợp này cần thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 186 BLTTDS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cùng Công văn số 107 ngày 23-6-2006 của TAND Tối cao.

Phải xác định lỗi

Theo Tòa Kinh tế, trong án kinh doanh, thương mại, việc xác định lỗi cũng như xem xét, đánh giá mức độ lỗi của các bên liên quan để làm căn cứ xác định trách nhiệm của mỗi bên là rất quan trọng.

Vụ tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa Công ty TBM với Tổng Công ty Cổ phần Bảo Minh là một ví dụ. Theo đó, tháng 10-2007, Công ty TBM ký hợp đồng bảo hiểm với Công ty Bảo Minh Bắc Ninh để bảo hiểm cho chiếc tàu TBM 08. Tháng 1-2008, trên đường từ cảng Vạn Gia (Quảng Ninh) đến cảng Phòng Thành (Trung Quốc), tàu TBM 08 gặp tai nạn bị đắm, làm mất tích một thủy thủ và gây tổn thất 770 tấn quặng sắt. Do Công ty Bảo Minh Bắc Ninh không đồng ý bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm nên Công ty TBM đã khởi kiện.

Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Quảng Ninh đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TBM, buộc phía Bảo Minh phải bồi thường 3 tỉ đồng. Tuy nhiên, sau đó Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội đã sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TBM.

Tháng 5-2012, chánh án TAND Tối cao đã có quyết định kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng hủy bản án phúc thẩm để giải quyết lại.

Theo quyết định kháng nghị, tòa sơ thẩm xác định Công ty Bảo Minh phải bồi thường là có căn cứ bởi vụ tai nạn là do thiên tai, không phải do bên Công ty TBM cố ý hoặc quá cẩu thả gây ra để được bồi thường bảo hiểm. Trong khi đó, phía Bảo Minh không có tài liệu chứng minh được bên Công ty TBM đã cố ý gây tai nạn chìm tàu. Theo quy định của Bộ luật Hàng hải và đối chiếu với hợp đồng bảo hiểm thì phía Bảo Minh phải có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty TBM.

Tuy nhiên, Công ty TBM cũng có một phần lỗi: Tàu TBM 08 chỉ được phép lưu thông trong điều kiện sóng cao bằng và dưới 2 m nhưng lại lưu thông trong điều kiện gió cấp 5, cấp 6; danh sách thuyền viên không trùng khớp với danh sách đã đăng ký, một số thuyền viên không có chứng chỉ chuyên môn. Do vậy, Công ty TBM cũng phải chịu một phần tổn thất.

Không thỏa thuận được án phí: Phải xử

Trên thực tế, nhiều tòa án địa phương vẫn ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự dù rằng giữa họ không thỏa thuận với nhau được về án phí như ai nộp, nộp bao nhiêu...

Theo Tòa Kinh tế TAND Tối cao, việc tòa ra quyết định công nhận sự thỏa thuận trong trường hợp này là không đúng. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 187 BLTTDS và hướng dẫn tại Tiểu mục 7.2 Mục 7 Phần II Nghị quyết 02 ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án và cả về án phí. Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nhưng không thỏa thuận được với nhau về trách nhiệm phải chịu án phí hoặc mức án phí thì tòa không công nhận sự thỏa thuận của các đương sự mà tiến hành mở phiên tòa để xét xử.

Vietrust law firm – Nguồn phapluattp.vn

 

 

 
Sửa đổi Bộ Luật Hình Sự: Có thể xử lý hình sự pháp nhân?
Nhiều chuyên gia cho rằng trong quan hệ dân sự, hành chính đều thừa nhận pháp nhân là một chủ thể thì không lý gì trong hình sự họ lại vô can khi vi phạm pháp luật.

 Tại hội thảo lấy ý kiến sửa đổi BLHS ngày 25-12 (do Ủy ban Tư pháp của Quốc hội tổ chức tại TP.HCM), vấn đề có thể xử lý hình sự pháp nhân không đã được đưa ra mổ xẻ khá kỹ. Cạnh đó việc mở rộng, thu hẹp hành vi trong một tội danh như thế nào cho phù hợp cũng được bàn luận.


Cá nhân đã bị xử lý hình sự liệu tới đây pháp nhân cũng sẽ bị xử lý? Ảnh minh họa: HTD

Pháp nhân cũng giống cá nhân

Theo PGS-TS Nguyễn Thái Phúc (Giám đốc Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp), vấn đề này đã được đưa vào dự thảo đầu tiên trong tờ trình BLHS năm 1999. Từ đó đến nay khoa học hình sự đã phát triển mạnh, nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh có thể xử lý hình sự pháp nhân. Ông Phúc phân tích khi tham gia vào các quan hệ xã hội, hành động của pháp nhân không phải tự phát mà là có nhận thức, có định hướng đến mục tiêu cụ thể. Thực tế nhiều ngành luật đã thừa nhận lỗi của pháp nhân đồng nhất với lỗi của nhân viên và người đại diện của pháp nhân đó. Việc thừa nhận trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật là phù hợp với nhu cầu phòng, chống tội phạm và xu hướng phát triển chung của thế giới.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thế Liên và đại diện Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng Nguyễn Thái Bình cũng đồng tình việc xử lý hình sự pháp nhân. Theo thứ trưởng, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước quốc tế về các lĩnh vực. Ngoài dân sự, hành chính thì chỉ khi nào hình sự hóa được trách nhiệm của pháp nhân thì lúc ấy công tác chống tội phạm xuyên quốc gia mới đạt kết quả cao.

Mở rộng hay thu hẹp tùy tội danh

Một vấn đề khác cũng được quan tâm là cơ cấu tội danh trong BLHS hiện chưa hợp lý. Một đại diện Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đề xuất nên mở rộng hành vi trong một tội danh bằng cách hạ thấp mức định lượng hoặc không định lượng quy mô hành vi. Chẳng hạn tội chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, vì định lượng giá trị tài sản trộm cắp phải từ 2 triệu đồng trở lên nên nếu người trộm cắp không phạm tội thì người chứa chấp và tiêu thụ cũng không phạm tội. Tuy nhiên, thực tế có trường hợp một người chứa chấp và tiêu thụ tài sản phạm tội của nhiều kẻ trộm (giá trị trộm dưới 2 triệu đồng) thì lại rất nguy hiểm. Tài sản của mỗi kẻ trộm chỉ 1,5 triệu đồng nhưng 10 kẻ trộm là 15 triệu đồng. Cạnh đó, một số tội khác thì cần phải thu hẹp hành vi và chủ thể thực hiện hành vi. Ví dụ hành vi tàng trữ, mua bán chất ma túy nhỏ lẻ. Thực tế đây là những con nghiện mua bán vài tép để sử dụng cho mình không có mục đích kiếm lời. Nhưng theo Điều 194 BLHS và văn bản hướng dẫn thi hành thì dù mua bán, tàng trữ số lượng dù rất nhỏ từ 0,1 g trở lên là phạm tội, dẫn đến việc xử lý tràn lan không cần thiết…

 

Dòng sự kiện

Ba mô hình xử lý hình sự pháp nhân

1. Pháp nhân và cá nhân là chủ thể độc lập

Mô hình này áp được các nước theo hệ thống thông luật như Anh, Mỹ, Canada, Úc; một số nước thuộc hệ thống pháp luật Roma- Giecmanh như Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Hà Lan, Bồ Đào Nha; một số nước nguyên là thuộc địa của Anh, Pháp... Ngoài những quy định chung như cá nhân luật còn có những quy định riêng về trách nhiệm hình sự cho pháp nhân.

2. Xử lý về bản chất

Mô hình này nhấn mạnh hơn yếu tố lỗi và chỉ thừa nhận cá nhân (thể hiện lợi ích của pháp nhân) là chủ thể của tội phạm (nhưng nếu pháp nhân tham gia thì cả hai đều bị xử lý). Nhiều người gọi mô hình này có tính ước lệ hoặc trung gian vì xét hình thức pháp nhân không phải chủ thể nhưng thực chất vẫn bị xử lý nếu có lỗi. Các nước Ý, Thụy Điển, Tây Ban Nha... đang áp dụng.

3. Xử lý hành chính

Hạn chế của mô hình là không phù hợp trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của pháp nhân và cá nhân cùng tham gia một tội phạm. Các chế tài hành chính dù mạnh như rút giấy phép kinh doanh, cấm hoạt động, giải tán… cũng không đủ mạnh để phù hợp với tính nguy hiểm của tội phạm. Hệ quả là một số pháp nhân chấp nhận “hy sinh” để người đại diện thực hiện hành vi phạm tội. Mô hình này được một số nước có chính sách ôn hòa như Nga áp dụng.

(Trích tham luận của PGS-TS Nguyễn Thái Phúc)

***

Chưa thể đổ hết cho người đứng đầu

Đồng tình với việc xử lý hình sự pháp nhân, tuy nhiên ông Nguyễn Thái Bình (Cục Điều tra hình sự Bộ Quốc phòng) cho rằng việc cá thể hóa trách nhiệm cho người đứng đầu pháp nhân hiện nay là không công bằng và thiếu chính xác. Nhiều pháp nhân như doanh nghiệp sản xuất kinh doanh theo nghị quyết của hội đồng quản trị nhưng sai phạm thì chỉ người đứng đầu chịu trách nhiệm là không đúng vì chưa chắc người đứng đầu ấy đã đồng ý theo hướng của hội đồng quản trị.

Nguồn  phapluattp.vn

 

 

 
Tăng quyền cho VKS trong giai đoạn điều tra
Ngày 6-12, VKSND Tối cao đã tổ chức hội nghị toàn quốc tổng kết thực tiễn thi hành BLTTHS 2003 và các luật, pháp lệnh về tổ chức của ngành kiểm sát.

 Hội nghị được tổ chức với quy mô lớn nhất từ trước tới nay, với thành phần từ viện trưởng VKSND cấp huyện trở lên...

Trình bày dự thảo tổng kết, Phó Viện trưởng VKSND Tối cao Hoàng Nghĩa Mai đã chỉ ra không ít vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành BLTTHS 2003.

Nhiều hạn chế

Cụ thể, các chức năng cơ bản của tố tụng gồm buộc tội, bào chữa, xét xử chưa được xử lý đúng đắn. Vì vậy, vai trò, chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của các chủ thể cũng như trình tự tiến hành các thủ tục tố tụng chưa được quy định hợp lý, rành mạch. Cơ quan điều tra chủ yếu trực thuộc hành pháp nên chưa đảm bảo tính độc lập trong hoạt động điều tra, xử lý tội phạm.

Bên cạnh đó, VKS được giao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhưng lại thiếu cơ chế thực thi. Tòa án là cơ quan xét xử nhưng lại được giao thêm những thẩm quyền nằm ngoài chức năng chính như quyền khởi tố vụ án, quyền xét xử vượt quá giới hạn truy tố của VKS.

Ngoài ra, quy định về căn cứ tạm giam chủ yếu dựa vào phân loại tội phạm trong BLHS dẫn tới tình trạng lạm dụng tạm giam. Các quy định về thời hạn tố tụng chưa phù hợp, vừa dẫn tới tùy tiện, vừa gây áp lực, khó khăn cho cơ quan tố tụng. Luật mới chỉ quy định về thủ tục tố tụng với người chưa thành niên phạm tội mà chưa có thủ tục với những người tham gia tố tụng khác cũng là người chưa thành niên...

VKS được giao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhưng lại thiếu cơ chế thực thi. Ảnh: HTD

Các hướng sửa đổi

Để khắc phục những hạn chế, bất cập trên, báo cáo của VKSND Tối cao kiến nghị việc sửa đổi BLTTHS tới đây, một mặt tiếp tục duy trì mô hình tố tụng thẩm vấn hiện hành, đồng thời tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng.

Chẳng hạn cơ quan điều tra, VKS có nhiệm vụ tìm kiếm cả chứng cứ buộc tội, gỡ tội một cách khách quan nhưng khẳng định chứng minh tội phạm là trách nhiệm của bên buộc tội (VKS, kiểm sát viên), còn chứng minh không phạm tội hoặc giảm tội, giảm hình phạt là quyền của bên bào chữa. Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử, chủ yếu thông qua việc nghe các bên hỏi, tranh luận, đối đáp.

Để tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra như yêu cầu của Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp, VKSND Tối cao cho rằng cần sửa đổi các quy định để VKS nắm bắt kịp thời, đầy đủ tố giác, tin báo tội phạm; trao cho VKS quyền trực tiếp xác minh tin báo khi xét thấy cần thiết như khi có khiếu nại về hoạt động của cơ quan điều tra, việc xác minh của cơ quan điều tra có vi phạm nghiêm trọng...

Trong mối quan hệ giữa VKS và cơ quan điều tra, hai phương án sửa đổi được đưa ra: Thứ nhất, VKS trực tiếp ra quyết định khởi tố, quyết định đình chỉ điều tra bị can, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn thay vì chỉ phê chuẩn lệnh, quyết định của cơ quan điều tra như hiện hành. Thứ hai, cứ giữ như quy định hiện hành nhưng bổ sung cơ chế để VKS thực hiện tốt trách nhiệm phê chuẩn: Tăng thời hạn xem xét phê chuẩn, được quyền yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung tài liệu hoặc giải trình, được tham gia hội đồng tuyển chọn điều tra viên các cấp...

Ngoài ra, VKSND Tối cao còn đề xuất mở rộng thẩm quyền điều tra của VKS như trong trường hợp phát hiện cơ quan điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc khi thấy cần thiết, thay vì chỉ điều tra tội phạm trong lĩnh vực tư pháp như hiện hành.

Tăng quyền chủ động của kiểm sát viên

Để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, dự thảo báo cáo của VKSND Tối cao cho rằng cần có cơ chế đảm bảo thực thi nguyên tắc có buộc tội mới có xét xử.

Chẳng hạn, tăng tính chủ động cho kiểm sát viên thực hành quyền công tố. Nếu tại phiên tòa, kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố thì tòa chỉ xét xử phần quyết định truy tố còn lại; còn rút toàn bộ quyết định truy tố thì vụ án phải được đình chỉ. Về trình tự xét hỏi, cần sửa đổi theo hướng việc xét hỏi chủ yếu do bên buộc tội và bên bào chữa thực hiện. Kiểm sát viên hỏi trước, sau đó đến người bào chữa và người tham gia tố tụng khác. Hội đồng xét xử chỉ hỏi sau khi các bên đã hỏi xong mà thấy còn những vấn đề chưa rõ hoặc mâu thuẫn.

Để phân định rõ hơn thẩm quyền của thủ trưởng cơ quan tố tụng và người trực tiếp tiến hành tố tụng, BLTTHS cần sửa đổi theo hướng thủ trưởng cơ quan điều tra, viện trưởng VKS chủ yếu thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp. Đây là các quyền tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra hoạt động tố tụng; phân công cán bộ tiến hành tố tụng; thay đổi, hủy bỏ các quyết định không có căn cứ hoặc trái luật của điều tra viên, kiểm sát viên.

Về thẩm quyền tố tụng tư pháp, cấp thủ trưởng chỉ ban hành các quyết định quan trọng như khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm đình chỉ, đình chỉ... hoặc quyết định hạn chế quyền tự do cơ bản của công dân như bắt, tạm giữ, tạm giam. Còn các quyết định tố tụng có tính chất phát hiện, làm sáng tỏ sự thật vụ án thì giao cho điều tra viên, kiểm sát viên thực hiện. Tương tự, với tòa án, chánh án chỉ thực hiện thẩm quyền quản lý hành chính tư pháp. Còn lại các thẩm quyền tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, hiện đang thuộc chánh án hoặc phó chánh án thì chuyển cho thẩm phán được giao giải quyết án.

Ngoài ra, cũng cần điều chỉnh thẩm quyền của viện trưởng VKSND Tối cao, chánh án TAND Tối cao và viện trưởng VKS cấp tỉnh, chánh án TAND cấp tỉnh theo hướng chỉ tiến hành tố tụng trong những trường hợp đặc biệt nhằm giải quyết hợp lý mối quan hệ đồng cấp của lãnh đạo cơ quan điều tra, truy tố, xét xử. Như thế, các vụ ở VKSND Tối cao sẽ được chuyển thành các viện thực hành chức năng công tố và kiểm sát điều tra, có vị trí tố tụng tương ứng với các tòa chuyên trách của TAND Tối cao.

 

Nghe lén, đọc lén… phải được VKS phê chuẩn?

Một số vấn đề mới cũng được đưa ra trong lần tổng kết BLTTHS lần này như xem xét sửa chế định chứng cứ theo hướng ngoài cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng, các chủ thể khác cũng có quyền thu thập, sử dụng chứng cứ; mở rộng, coi băng ghi âm, ghi hình, dữ liệu điện tử và các phương tiện khác ghi lại dấu vết tội phạm... là nguồn chứng cứ.

VKSND Tối cao đề xuất bảo vệ tốt hơn quyền con người trong tố tụng hình sự theo hướng các biện pháp trinh sát ảnh hưởng trực tiếp tới quyền cơ bản của cá nhân, tổ chức như nghe lén điện thoại, đột nhập nhà riêng, mở bưu phẩm... chỉ được tiến hành sau khi có phê chuẩn của VKS. Đồng thời, kết quả thu thập được từ hoạt động trinh sát mà có phê chuẩn của VKS thì được coi là chứng cứ. Ngoài ra, để đẩy mạnh tranh tụng, có thể bổ sung quy định trong trường hợp cần thiết, tòa có quyền triệu tập điều tra viên đến phiên xử để diễn giải quá trình thu thập chứng cứ của vụ án...

 

Vietrust law firm – Theo phapluattp.vn

 

 

 

 
'Quy định về xe chính chủ sai luật, không khả thi'

Bà Lê Thị Nga, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội cho rằng, Nghị định 71 về xe chính chủ còn sai luật và không khả thi, mức phạt quá cao đã làm cho người dân phản ứng cực đoan với chính sách của Nhà nước.

Đại biểu Quốc hội Lê Thị Nga. Ảnh: Nguyễn Hưng.
- Nhiều ý kiến cho rằng, quy định về xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện, nhất là Nghị định 71/CP đã trái thẩm quyền hoặc vi hiến khi cản trở quyền sở hữu tài sản của công dân. Bà nhận định như thế nào?

- Việc xử phạt chủ phương tiện (ôtô, xe máy...) không chuyển quyền sở hữu không phải là vấn đề mới mà đã được quy định trong các nghị định xử phạt hành chính về giao thông đường bộ như: Nghị định 15/2003, Nghị định 152/2005, Nghị định 146/2007, Nghị định 34/2010 và mới nhất là Nghị định 71/2012.

Về hành vi vi phạm, đối tượng bị phạt, thẩm quyền xử phạt, Nghị định 71 không có gì thay đổi so với các nghị định cũ. Thay đổi lớn nhất là tăng mức phạt ôtô từ 1 - 2 triệu đồng lên 6 - 10 triệu đồng, xe máy từ 50.000 - 100.000 đồng lên 800.000 đồng - 1,2 triệu đồng.

- Vì sao một quy định được Chính phủ đưa ra từ năm 2003 mà nay lại bị dư luận phản ứng như vậy?

- Thông tin về kết quả cuộc họp giữa Bộ Tư pháp và Bộ Công an ngày 19/11 vừa qua vẫn khẳng định, các quy định này là đúng pháp luật.

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã đưa ra một quy trình khá chặt chẽ tại chương 5 để bảo đảm các nghị định có chất lượng tốt, thực sự là sản phẩm trí tuệ của tập thể Chính phủ. Trong đó, khâu thẩm định của Bộ Tư pháp có thể coi là người gác cổng của Chính phủ đối với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, phân tích kỹ về mặt pháp lý, có thể thấy Nghị định 71/CP đã không bảo đảm được yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tính khả thi trong nội dung phạt hành chính hành vi không chuyển quyền sở hữu.

"Mức phạt quá cao đã làm cho nhiều người dân có phản ứng cực đoan với chính sách của Nhà nước và người trực tiếp thực thi hoặc tìm cách chống đối, lách luật". Ảnh minh họa: Bá Đô

- Vậy, Nghị định này không bảo đảm yêu cầu ở điểm nào?

- Thứ nhất, việc giao CSGT có thẩm quyền xử phạt là không đáp ứng được yêu cầu bảo đảm "sự phù hợp giữa quy định dự thảo với điều kiện thực hiện". Các nghị định trên đều giao CSGT có thẩm quyền xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện giao thông.

Muốn phạt được thì trong hàng triệu trường hợp vi phạm giao thông, CSGT phải xác định ai là người chủ đích thực của phương tiện chưa chuyển quyền. Việc giao CSGT nhiệm vụ "truy tìm" chủ xe thông qua việc giữ người điều khiển vi phạm vừa không đúng với chức năng là lực lượng tuần tra, kiểm soát nhằm bảo đảm trật tự an toàn giao thông vừa không khả thi.

Thứ hai, không thể yêu cầu công dân khi sử dụng phương tiện giao thông phải mang theo giấy tờ chứng minh việc mình mượn, thuê phương tiện đó vì không hợp pháp và không phù hợp với tập quán, văn hóa ứng xử của người Việt.

Thứ ba, quyền sở hữu của chủ phương tiện giao thông có thể bị điều chỉnh bởi Luật Dân sự và Luật Hành chính. Dưới góc độ dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự và sự kiện pháp lý xuất hiện nghĩa vụ chứng minh là khi có tranh chấp quyền sở hữu. Còn dưới góc độ hành chính, nếu xử phạt hành chính vì lý do không chuyển quyền thì nghĩa vụ chứng minh thuộc người có thẩm quyền xử phạt.

Như vậy, việc bắt công dân chứng minh chiếc xe đang đi là mượn hay mua nhưng chưa làm thủ tục vào thời điểm họ vi phạm luật về giao thông nhằm làm căn cứ xử phạt vi phạm hành chính là không đúng pháp luật.

- Bà nhìn nhận thế nào về mức phạt xe không “chính chủ” theo Nghị định 71/CP?

- Số tiền 1,2 triệu đồng một xe máy, đối với người khá giả là không lớn nhưng đối với người nghèo, người dân nông thôn, sinh viên... là không nhỏ; còn 10 triệu đồng một ôtô thì kể cả người khá giả cũng là vấn đề. Mức phạt quá cao làm cho nhiều người dân có phản ứng cực đoan với chính sách của Nhà nước và người trực tiếp thực thi hoặc tìm cách lách luật, trong đó không loại trừ việc chung chi cho CSGT.

Bà Lê Thị Nga cho rằng, phương án do một vài chuyên gia của Bộ Tư pháp và Bộ Công an đưa ra là tạm hoãn thi hành việc xử phạt chủ phương tiện giao thông không chuyển quyền sở hữu là giải pháp “hoãn binh” chứ không phải là sự thừa nhận tính thiếu khả thi của Nghị định 71/CP.

"Chính phủ cần sớm xem lại Nghị định 71/CP. Ủy ban Pháp luật, Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội nên phối hợp giám sát và tổ chức một phiên giải trình về việc tuân thủ các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong việc ban hành nghị định trên", bà Nga kiến nghị.

Vietrust law firm – Theo nld.com.vn

 

 

 
Lấy ý kiến nhân dân về sửa Hiến pháp từ tháng 1/2013

Quá trình lấy ý kiến nhân dân về Hiến pháp 1992 sửa đổi sẽ bắt đầu từ tháng 1/2013, kéo dài 3 tháng. Việc lấy ý kiến nhân dân sẽ bắt đầu từ ngày 2/1/2013 đến 31/3/2013 để bảo đảm tiến độ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5

Phát biểu tại phiên bế mạc, kết thúc hơn 1 tháng làm việc của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nhận xét, trong kỳ họp, các đại biểu đã tập trung trí tuệ, tâm huyết, quyết định nhiều vấn đề quan trọng, cử tri quan tâm. Hầu hết các nội dung của kỳ họp đã được tường thuật trực tiếp để nhân dân theo dõi, giám sát. Theo đó, hoạt động của các cơ quan nhà nước, công chức nhà nước ngày càng gần dân hơn, công khai minh bạch hơn.

Quốc hội đã dành nhiều thời gian phân tích một cách sâu sắc tình hình kinh tế đất nước năm 2012 và nhận thấy trong tình hình khó khăn chung, Chính phủ đã nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Bên cạnh đó, Quốc hội cũng phân tích, chỉ ra nhiều hạn chế, yếu kém trong công tác điều hành.
 
Chủ tịch QH: “Cần đánh giá tín nhiệm chính xác cán bộ cấp cao”
Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng: "Lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm là đổi mới quan trọng trong đời sống chính trị" (ảnh: Việt Hưng).

Ông Hùng nhấn mạnh, năm 2013 là thời điểm giao thời quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch 5 năm 2011 – 2015, giải quyết nhiều vấn đề của đất nước, cần phải tạo những đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả đối ngoại, quốc phòng an ninh bảo đảm bền vững trong phát triển những năm tiếp theo.

Vì vậy, Quốc hội đã đề các chỉ tiêu cụ thể cần cho năm tới và yêu cầu Chính phủ quyết liệt thực hiện các giải pháp này.

Điểm lại hoạt động lập pháp của kỳ họp, ông Hùng khái quát, Quốc hội đã thông qua 9 dự án luật quan trọng với tinh thần thận trọng, đảm bảo yêu cầu đổi mới sát hơn với cuộc sống.

Nhấn mạnh luật Phòng chống tham nhũng, Chủ tịch QH cho rằng, lãnh đạo nhà nước xác định cuộc đấu tranh này còn lâu dài và nhiều phức tạp. Vì thế, các cơ quan chức năng cần tiếp tục nghiên cứu đưa ra các giải pháp khả thi để sửa cơ bản, toàn diện luật này, đáp ứng yêu cầu của cử tri về cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng.

Nói về việc sửa đổi Hiến pháp, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng lưu ý, đây là công việc hệ trọng của toàn Đảng toàn dân để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Các cơ quan chức năng, các ngành các cấp cần tổ chức lấy ý kiến để chắt lọc tinh hoa trí tuệ, ý chí toàn dân để sửa Hiến pháp một cách hiệu quả.

Về hoạt động giám sát, ông Hùng khái quát, cả kỳ họp, Quốc hội đã dành thời gian xem xét nhiều báo cáo của các Bộ trưởng, thành viên Chính phủ về thực hiện lời hứa. Phiên chất vấn với 4 Bộ trưởng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa qua, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đánh giá, Quốc hội đã tiến hành chất vấn nghiêm túc, thẳng thắn, được cử tri ghi nhận tích cực.

“Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn thách thức, Quốc hội ghi nhận nỗ lực của Chính phủ, Thủ tướng trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao nhưng vẫn yêu cầu cơ quan điều hành cần nỗ lực hơn nữa để thực hiện những việc được giao sau phiên chất vấn này” – ông Hùng phát biểu.

Một hoạt động giám sát khác là Quốc hội thông qua Nghị quyết về việc lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng khẳng định, đây là đổi mới quan trọng trong đời sống chính trị, góp phần nâng cao quyền làm chủ của người dân thông qua cách đánh giá tín nhiệm việc thực hiện chức trách nhiệm vụ của những người có chức vụ quyền hạn trong bộ máy lãnh đạo cấp cao của nhà nước.

Ông Hùng nêu yêu cầu các ngành, cấp, từng đại biểu chuẩn bị những việc cần thiết để có thể đánh giá tín nhiệm một cách chính xác với các chức danh lãnh đạo nhà nước này từ đầu 2013.

Trước khi bế mạc kỳ họp, trong sáng 23/11, 100% các đại biểu có mặt bấm nút thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về việc sửa Hiến pháp. Theo đó, quá trình lấy ý kiến nhân dân về Hiến pháp 1992 sửa đổi sẽ bắt đầu từ tháng 1/2013, kéo dài 3 tháng. Việc lấy ý kiến nhân dân sẽ bắt đầu từ ngày 2/1/2013 đến 31/3/2013 để bảo đảm tiến độ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ 5 (tháng 5/2013).

Các hình thức lấy ý kiến nhân dân bao gồm, góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức. Thông qua tổ chức thảo luận tại các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; qua Trang thông tin điện tử của Quốc hội và các phương tiện thông tin đại chúng cũng như một số hình thức phù hợp khác.

Người dân có thể góp ý về toàn bộ Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Quốc hội cũng kêu gọi người Việt Nam định cư ở nước ngoài hưởng ứng và tích cực tham gia đóng góp ý kiến để bản Hiến pháp thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của người dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Ngoài ra, Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết về vic tiếp tc nâng cao hiu lc, hiu qu thc hin chính sách, pháp lut trong gii quyết khiếu ni, t cáo ca công dân đi vi các quyết đnh hành chính v đt đai với số “phiếu thuận” tuyệt đối.

Quốc hội chấp nhận đề xuất hạn định đến năm 2015 phải cơ bản hoàn thành việc cấp “sổ đỏ” theo bản đồ địa chính, trích đo địa chính có tọa độ đến từng thửa đất. Việc này sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, góp phàn giảm khiếu nại, tố cáo, tranh chấp dù sẽ đòi hỏi tập trung nguồn lực và tổ chức thực hiện một cách quyết liệt.

Quốc hội cũng thống nhất “nới” hạn giải quyết dứt điểm 528 vụ khiếu kiện tồn đọng kéo dài sang năm 2013 thay cho mốc hết năm 2012 như yêu cầu trước đó, dù đến nay, việc giải quyết đã đạt hơn 97%.

Vietrust law firm – Theo dantri.com.vn

 

 

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 3 của 11
 

ls le trung son cr

Khách hàng

TƯ VẤN PHÁP LUẬT


DỊCH VỤ CUNG CẤP

trong nuoc

nn