Tin tức
TÌM HIỂU PHÁP LUẬT PHÁ SẢN TRÊN THẾ GIỚI
  PHAN THỊ THU HÀ – Viện Khoa học xét xử, Tòa án nhân dân tối cao
Trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hóa ngày nay, nhu cầu xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về kinh tế nói chung và pháp luật phá sản nói riêng luôn được các quốc gia quan tâm, chú ý. Trong bối cảnh đó, Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm đến việc xây dựng, sửa đổi pháp luật, theo đó pháp luật phá sản cũng không là ngoại lệ. Do vậy, việc nghiên cứu, tham khảo pháp luật về phá sản của các nước trên thế giới và trong khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thiện pháp luật phá sản trong nước.
Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đáp ứng các yêu cầu của việc gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế đa phương, song phương của Việt Nam, ngay từ buổi đầu của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất nước, Việt Nam đã xây dựng và ban hành Luật Phá sản doanh nghiệp (năm 1993). Trải qua 10 năm thi hành, các quy định của Luật này không còn phù hợp với thực tiễn nên Luật Phá sản đó đã được sửa đổi, bổ sung khá cơ bản và toàn diện.
Luật Phá sản năm 2004 được ban hành là kết quả của việc tổng kết thực tiễn sau 10 năm thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, đồng thời cũng là kết quả của việc nghiên cứu, tiếp thu những kinh nghiệm xây dựng pháp luật về phá sản của một số nước trong khu vực và trên thế giới. Do vậy, trong chuyên đề này chúng tôi tìm hiểu chung (có tính khái quát) về pháp luật phá sản trên thế giới.
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN VÀ PHÁP LUẬT PHÁ SẢN
Theo quan niệm chung, tình trạng phá sản là hậu quả đư¬ơng nhiên của quá trình cạnh tranh, kinh doanh trên thương trường. Việc giải quyết hậu quả của quá trình đó là tất yếu, là nhiệm vụ của bất kỳ quốc gia nào nhằm đảm bảo một môi trường kinh doanh lành mạnh cho các chủ thể tham gia kinh doanh, đảm bảo vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
Trải qua quá trình dài của lịch sử phát triển kinh tế, bên cạnh những yếu tố tích cực là thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì nền kinh tế cũng xảy ra nhiều biến động, thăng trầm và khủng hoảng. Hậu quả của sự khủng hoảng kinh tế thường kéo theo sự phá sản hàng loạt của các thương nhân.
Để giải quyết hậu quả của kinh doanh thua lỗ, mất khả năng thanh toán, giữa chủ nợ và người mắc nợ đã cùng nhau tìm ra những phương thức giải quyết khác nhau, hoặc là tự giải quyết, hoặc là với sự giúp đỡ của một cá nhân hoặc tập thể nào đó. Tuy nhiên, đôi khi các phương thức giải quyết tự phát không hiệu quả, từ đó phát sinh nhu cầu có những quy định pháp luật và sự can thiệp cần thiết để điều chỉnh, giải quyết hiện tượng phá sản một cách hiệu quả hơn, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan: chủ nợ, người mắc nợ và người lao động.
Ngay từ thời Trung cổ, các quốc gia châu Âu đã ban hành những văn bản Luật Phá sản đầu tiên. Lúc đầu, phạm vi áp dụng của những luật này chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, nhưng dần dần đã được đưa vào áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, và cho đến nay, pháp luật về phá sản đã điều chỉnh cả các quan hệ kinh doanh của các cá nhân, phá sản tiêu dùng.
Có thể nói rằng, về thời điểm xuất hiện Luật Phá sản, về hình thức, tên gọi và cả phạm vi áp dụng, thủ tục giải quyết cũng rất đa dạng và phong phú, thể hiện được tính đa dạng của quan hệ xã hội do lĩnh vực pháp luật này điều chỉnh.
Về tên gọi, tên gọi thông dụng và phổ biến nhất của tình trạng của doanh nghiệp là tình trạng phá sản, vỡ nợ, mất khả năng thanh toán. Văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ này thông dụng nhất là Luật Phá sản. Tuy nhiên, ở mỗi nước khác nhau thì có thể có các tên gọi khác nhau: ở Nam Tư có Luật cư¬ỡng chế hoà giải phá sản (năm 1905); ở Anh có Luật không có khả năng thanh toán, Luật treo giò giám đốc công ty (năm 1986); ở Hàn Quốc có Luật cam kết và Luật tổ chức lại công ty…
Chi tiết...
 
Luật sư Trần Hữu Huỳnh: Soạn luật - Bài học đi từ thực tiễn

Luật sư Trần Hữu Huỳnh: Soạn luật - Bài học đi từ thực tiễn

 

 

Quy trình xây dựng pháp luật ngày nay đã được quy định khá chặt chẽ và rõ ràng. Tuy nhiên, làm thế nào để tạo được một bộ luật khả thi và có sức sống thật mạnh mẽ thì Luật Doanh nghiệp chính là một hình mẫu. Nhân kỷ niệm 10 năm ngày ra đời Luật Doanh nghiệp, luật sư Trần Hữu Huỳnh(*), Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đã kể vài câu chuyện thú vị về quá trình soạn thảo luật này.

Lắng nghe cuộc sống và “đảo chiều” quan niệm

Luật Doanh nghiệp được khởi thảo từ 1995 và kéo dài ròng rã trong bốn năm, đây là một quá trình nghiên cứu, khảo sát, tranh luận, phản biện… rất công phu. Nhưng tranh cãi gay gắt nhất là những vấn đề liên quan đến quyền tự do kinh doanh của công dân.

Quan niệm chi phối ban đầu chịu ảnh hưởng của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 là “công dân chỉ được kinh doanh những gì mà Nhà nước cho phép”. Do đó, mọi hành vi, từ việc thành lập doanh nghiệp đến các hoạt động kinh doanh cụ thể đều phải được cấp phép. Nhiều cán bộ có thẩm quyền thẳng thừng: Đã quản lý nhà nước là phải cấp phép mà cấp phép là phải “xin-cho”.

Trong điều kiện như vậy, theo kế hoạch ban đầu, luật được thiết kế theo hướng liệt kê tất cả những ngành nghề kinh doanh được phép thành một danh mục, các đối tượng được phép kinh doanh thành một danh mục. Công dân, nếu đáp ứng hai danh mục này, thì mới được phép kinh doanh.

Thế nhưng, khi đi vào tìm hiểu thực tế thì thấy rằng cách thiết kế dự luật theo hướng “đóng” này là không ổn, gây bất lợi cho cả công dân, người kinh doanh lẫn quản lý nhà nước. Để có được kết luận như vậy, ban soạn thảo đã tiến hành điều tra, khảo sát, cùng VCCI tổ chức hàng chục cuộc hội thảo từ Nam chí Bắc; lấy ý kiến của nhiều chuyên gia và hàng ngàn doanh nghiệp.

Hầu hết đều cho rằng “nhân sinh, bách nghệ”, mưu sinh là quyền và lẽ tự nhiên của con người, do đó nếu thiết kế theo hướng “đóng” thì vừa không hợp lẽ tự nhiên vừa không phù hợp với quy định của Hiến pháp 1992 “công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”.

Trên cơ sở thực tiễn đó, kết hợp với nghiên cứu kinh nghiệm của các nước, một phương án “mở” được hình thành. Thay vì liệt kê danh mục ngành nghề kinh doanh được phép thì chỉ liệt kê danh mục ngành nghề cấm kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; thay vì liệt kê các đối tượng được phép kinh doanh thì chỉ liệt kê các đối tượng cấm kinh doanh, thay vì Nhà nước cho phép thành lập doanh nghiệp thì nhà đầu tư chỉ cần làm thủ tục đăng ký kinh doanh.

Ý tưởng này lúc đầu đưa ra nghe rất lạ và đụng chạm gay gắt vì quan niệm xin-cho, quan niệm công dân chỉ được làm những gì được phép đã thấm rất sâu vào não trạng của bao người.

Khó khăn nhất là khi thảo luận với các cơ quan quản lý nhà nước; ngay cả một số doanh nghiệp đã được thành lập lúc được hỏi cũng cho rằng cần duy trì theo cách cũ, nghĩa là muốn kinh doanh phải có giấy phép thành lập.

Thậm chí, khi thảo luận, có một vài đại biểu Quốc hội lo lắng: “Nếu luật thoáng như vậy, lỡ sau một đêm ngủ dậy, hàng triệu doanh nghiệp tư nhân mọc lên như nấm thì vai trò chủ đạo của doanh nghiệp quốc doanh còn đâu?”. Tuy nhiên, điều quan trọng là cuối cùng tư tưởng tiến bộ “công dân được quyền kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm” đã thắng thế với việc Luật Doanh nghiệp được Quốc hội biểu quyết thông qua vào ngày 12-6-1999.

Có thể rút ra mấy nguyên nhân thành công sau đây. Một là quá trình soạn luật cần gắn chặt và biết lắng nghe “tiếng nói” của thực tiễn. Chính việc tìm hiểu những nhu cầu bức xúc của cuộc sống đã giúp cho ban soạn thảo luật biết cách xây dựng một bộ luật phù hợp.

Hai là quá trình lấy ý kiến phải đa dạng, đa chiều từ các nhóm có lợi ích đối lập. Một số doanh nghiệp lúc đầu được hỏi cũng cho rằng cần duy trì giấy phép, cũng như hệ thống vốn pháp định. Hóa ra, đề nghị của họ chẳng qua là để hạn chế việc gia nhập thị trường trong lĩnh vực mà họ đang kinh doanh mà thôi. Với những trường hợp như vậy, việc lắng nghe ý kiến nhiều chiều sẽ rất có lợi vì giúp cho người soạn thảo có những kết luận tỉnh táo, đúng đắn.

Ba là phải có sự tranh luận, phản biện và đặc biệt, phải có ý kiến giải trình. Quá trình soạn thảo cho thấy nhờ những cuộc tranh luận sôi nổi, thậm chí nảy lửa, ban soạn thảo đã tìm ra được phương án phù hợp “người dân được kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm”.

Bộ trưởng cũng đi “thuyết khách”

Một yếu tố khác không kém phần quan trọng là vấn đề triển khai thực hiện luật. Sau khi Luật Doanh nghiệp được thông qua, một vấn đề nan giải phát sinh mà nếu không giải quyết được thì Luật Doanh nghiệp dù “thoáng” cỡ nào cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đó là vấn nạn giấy phép “con”.

Giấy phép “con” vừa gây khó khăn cho việc gia nhập thị trường của doanh nghiệp, vừa là dư địa của nhũng nhiễu, tiêu cực. Vì thế, Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp mà các thành viên chủ yếu lấy từ ban soạn thảo lại tiếp tục “trường chinh” với việc kiến nghị bỏ giấy phép “con”.

Đề xuất này bị các bộ, ngành phản ứng rất dữ. Các cuộc hội thảo lấy ý kiến đóng góp bao giờ cũng nóng lên giữa một bên đề nghị bỏ và một bên yêu cầu tiếp tục duy trì trật tự cũ. Các thành viên trong tổ công tác đã vận dụng sách lược kiên trì lập luận, kiên trì thuyết phục để bỏ, sửa từng giấy phép một. Một số bộ, ngành có thái độ “rắn” muốn giữ giấy phép “con”.

Ông Trần Xuân Giá hồi đó với tư cách Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, kiêm tổ trưởng tổ công tác đã đích thân dẫn các thành viên đi gặp riêng từng bộ để “thuyết khách” cho đến khi họ… chịu mới thôi. Ông lập luận rằng lúc này phải kiên quyết thì mới thành công. Hóa ra, lãnh đạo cấp bộ có nhiều vị chẳng hề biết bộ mình có bao nhiêu giấy phép cũng như nạn giấy phép “con”. Người nắm việc này rõ nhất lại là các vụ.

Có ông cấp vụ lúc thảo luận công khai thì tranh cãi quyết liệt về tính hợp pháp, hợp lý cần duy trì giấy phép nhưng khi gặp nhau riêng tư thì thú thật: “Tôi biết trước sau gì giấy phép “con” cũng nên bỏ. Tuy nhiên, mấy anh thông cảm vì đây đang là niêu cơm của nhiều người, hãy thư thả cho chúng tôi…”. Buồn và cay đắng! Nhưng điều đáng mừng là sau đó ít lâu, chính bộ này đã ra văn bản bãi bỏ liền một lúc mấy cái giấy phép “con”.

Có thể nói sau cuộc “cách mạng” Luật Doanh nghiệp, đề xuất bỏ giấy phép “con” lại một lần nữa tạo ra bước đột phá ngoạn mục khi đưa ra một cách tiếp cận mới tiến bộ hơn về quản lý. Đó là mô hình quản lý theo cơ chế “tiền đăng, hậu kiểm” thay cho mô hình “tiền kiểm, hậu buông”.

Điều thú vị là ở chỗ chính một số cơ quan nhà nước, qua các cuộc tranh luận nảy lửa này, đã “ngộ” ra nhiều điều về vai trò “quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp”, có những người trong số họ sau này lại trở thành những người tích cực tiếp thu cái mới nói trên, chủ động đề xuất bãi bỏ nhiều thủ tục cấp phép nặng về “tiền kiểm” hình thức để chuyển sang quản lý bằng “hậu kiểm” thực chất.

Có thể nói ban hành một đạo luật tiến bộ đã là rất khó, thực thi có hiệu quả đạo luật này còn khó hơn, do đó muốn đưa được luật vào cuộc sống thì trước hết, phải biết đưa cuộc sống vào luật.

Vẫn chưa thỏa mãn

Luật sư Trần Hữu Huỳnh cho biết dù Luật Doanh nghiệp được thông qua nhưng bản thân ông vẫn còn một số trăn trở. Theo ông, cách làm của chúng ta vẫn chưa chuyên nghiệp, nặng về cảm tính mà thiếu dữ liệu, thiếu đánh giá, thiếu thông tin. Ví dụ, dự luật khi trình ra Quốc hội có một chương nói về công ty hợp danh khá chi tiết, cụ thể. Ngoài một số đại biểu biết rõ về loại hình này, phần lớn các đại biểu đều không rành rẽ, muốn “gác” lại. Thấy căng, có đại biểu đề nghị: “Nếu “gác” lại thì tội cho anh Giá quá! Hay là cho sửa lại cho dễ hiểu hơn?!”. Thể theo đề nghị đó, cả một chương của dự luật được sửa lại thành vỏn vẹn có bốn điều để luật được thông qua.  

Một ví dụ khác là loại hình công ty TNHH một thành viên là cá nhân. Khi trình, có vài ý kiến cảnh báo, đại ý lo rằng nếu cho phép loại hình này thì các doanh nghiệp tư nhân sẽ chuyển hết thành Công ty TNHH một thành viên. Chỉ với vài ý kiến đó, chương về công ty TNHH một thành viên là cá nhân đã bị gác lại, trong khi trên thực tế rất nhiều công ty TNHH hình thức thì hai, ba thành viên nhưng thực chất là của một người. Mãi đến sáu năm sau, Luật Doanh nghiệp 2005 mới cho phép loại công ty này.

Ông Huỳnh cũng lấy làm tiếc khi ý tưởng đưa các điều khoản về “hành vi phạm tội trong doanh nghiệp” vào luật đã không được chấp nhận. “Hành vi phạm tội trong lĩnh vực kinh doanh luôn luôn cụ thể, chi tiết, biến động và lượng hóa được trong khi Bộ luật Hình sự thì phải có tính ổn định vì nó điều chỉnh hầu hết những hành vi phạm tội chung nhất, phổ biến nhất. Như vậy, rõ ràng là các luật chuyên ngành về kinh doanh nên có các điều khoản quy định về vi phạm (cả hành chính và hình sự) mang tính chuyên ngành để khắc phục lỗ hổng mà Bộ luật Hình sự cũng như pháp luật về xử phạt hành chính đã không thể điều chỉnh hết được. Điều này không chỉ đúng cho Luật Doanh nghiệp mà còn đúng cho nhiều đạo luật về kinh doanh hiện nay ”, ông nói. 

Nguyên Tấn ghi
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online
_________________________________

(*) Luật sư Trần Hữu Huỳnh là một trong 20 thành viên của Ban Soạn thảo dự án Luật Doanh nghiệp 1999 và là thành viên của Tổ công tác thi hành Luật Doanh nghiệp 1999

 

 
Một vài hạn chế vướng mắc trong việc thực hiện các quy định của luật đất đai về việc bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất

MỘT VÀI HẠN CHẾ VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT

ĐƯỜNG HẢI VŨ

Luật Đất đai năm 2003 là một bước tiến bộ trong chính sách quản lý về đất đai, sử dụng đất đai của Nhà nước; quy định đầy đủ, rõ ràng và chặt chẽ hơn các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Tuy nhiên trong thực tế thi hành Luật Đất đai còn một số tồn tại vướng mắc có ảnh hưởng đến  quyền lợi của người sử dụng đất.

1- Những tồn tại trong thực tế và vướng mắc của pháp luật

- Về việc giao đất có mồ mả: Trước đây theo phong tục, tập quán của từng địa phương, người dân thường chôn cất người chết trong vườn nhà hoặc trên phần đất ruộng trồng lúa, hoa màu của gia đình mình. Mặc dù đã có Nghị định số 64/1993/NĐ-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể về việc giao đất có mồ mả của chủ mồ mả cho người khác sử dụng; cũng chưa có quy định cụ thể người có quyền sử dụng đất có mồ mả được phép trồng cây lâu năm, xây cất công trình kiến trúc cách mộ là bao nhiêu mét? nhằm tránh gây ảnh hưởng đến phần mộ của người khác và tâm linh của người chết. Chính vì vậy, khi thực hiện việc giao đất theo hiện trạng cho người sử dụng và phân chia lại đất thì đất do hộ này canh tác lại được giao cho hộ khác nên đã xảy ra tranh chấp đất gần mộ và đất trồng cây lâu năm trên đất gần mộ của chủ khác.

- Về quy định của Luật Đất đai đối với thời hạn sử dụng đất và gia hạn thời hạn sử dụng đất: Trên thực tế quy định về thời hạn sử dụng đất không đạt được ý nghĩa vì rất nhiều người dân chưa sử dụng hết thời hạn sử dụng đất được Nhà nước giao đã chuyển nhượng lại cho người khác; cũng rất ít trường hợp khi thời hạn sử dụng đất đã hết mà người dân cầm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến cơ quan có thẩm quyền xin gia hạn thời hạn sử dụng đất.

- Về vấn đề bồi thường giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất: Trong quá trình thu hồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng để xây dựng hạ tầng cơ sở, thực hiện các dự án đầu tư của Nhà nước, của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế… Người sử dụng đất có quyền được bồi thường  nhưng việc thu hồi giải phóng mặt bằng nhiều khi không tuân thủ trình tự do pháp luật quy định, giá đất bồi thường và giá đất thực tế chênh nhau quá lớn không đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất.

- Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai quy định người sử dụng đất : “được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Đây là quyền của người sử dụng đất, nhưng trên thực tế quyền này của người sử dụng đất bị xem như là nghĩa vụ. Để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất phải qua nhiều thủ tục phức tạp, vì vậy dẫn đến tiến độ triển khai việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhìn chung còn chậm làm ảnh hưởng đến quyền của người sử dụng đất trong việc thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, vay vốn…

- Trường hợp chủ sử dụng đất là người đi làm ăn ở những vùng kinh tế mới hoặc tham gia kháng chiến, sau giải phóng vì điều kiện công tác, học tập, làm ăn ở xa nên không đăng ký quyền sử dụng đất. Vì vậy, đã bị người khác tự ý kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay họ trở về đòi lại quyền sử dụng đất thì giải quyết tranh chấp như thế nào? Việc này cần có các quy định cụ thể của pháp luật.

-Về việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền: Khoản 7 Điều 113 Luật Đất đai quy định, hộ gia đình và cá nhân chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất “để vay vốn sản xuất , kinh doanh” mà không được thế chấp để phục vụ nhu cầu  đời sống như vay vốn để học tập hay chữa bệnh cứu người… Như vậy, nếu hộ gia đình, cá nhân sử dụng tiền vay để phục vụ nhu cầu đời sống thì có thể bị xem là vi phạm hợp đồng để phía cho vay khởi kiện. Quy định này đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên vay.

- Về thời hiệu khởi kiện: Khoản 5 điều 105 Luật đất đai 2003 quy định về quyền của người sử dụng đất “Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình”. Tuy nhiên lại có quy định về thời hiệu khởi kiện, như vậy đã làm hạn chế về quyền của người sử dụng đất. Hiện nay, theo quy định tại Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự  thì thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự là 2 năm đãlàm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất và dẫn đến không có cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Việc quy định thời hiệu khởi kiện như hiện nay là chưa hợp lý và mâu thuẫn với chức năng của nhà nước là giải quyết tranh chấp, ổn định xã hội. Đây là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước, nhưng nếu quy định thời hiệu để Nhà nước không giải quyết tranh chấp , thì ai sẽ giải quyết và sẽ giải quyết thế nào nếu mâu thuẫn tiếp tục phát sinh gây bất ổn xã hội.

- Quyền của người sử dụng đất còn bị ảnh hưởng do chưa có các quy định đầy đủ để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ hợp đồng kinh doanh thương mại, đặc biệt là việc xử lý quyền sử dụng đất trong các vụ phá sản. Tại khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai năm 2003 quy định Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: “Tổ chức được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất” và tại điểm a khoản 1 Điều 43 Luật này có quy định: Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 38 của luật này. Trên thực tế khi doanh nghiệp bị phá sản, Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thu hồi đất của doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp Nhà nước mà không có bồi thường, đồng thời lại giao đất cho đơn vị khác; còn tài sản trên đất như trụ sở, nhà xưởng lại phải đưa ra trung tâm bán đấu giá tài sản để đấu thầu, nên rất khó để thanh lý tài sản vì nếu bất động sản bị tách rời quyền sử dụng đất thì bất động sản đó bị giảm giá trị rất lớn.

2-Kiến nghị:

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước cần phải trao quyền nhiều hơn nữa  cho người dân đối với đất đai để người dân thấy được rằng mình là người chủ thực sự của mảnh đất mà mình đã gắn bó vào nó. Vì vậy cần xóa bỏ thời hạn mà người dân được sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao đất không xác định thời hạn sử dụng đất cho người dân. Bởi vì khi cần thiết , Nhà nước vẫn có quyền thu hồi đất thì tại sao lại không giao cho người dân quyền sử dụng đất ổn định lâu dài. Nếu làm được điều này sẽ tạo ra sự an tâm và tin tưởng của người dân vào Đảng và Nhà nước, đồng thời không gây tốn kém cho Nhà nước khi phải cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới khi hết thời hạn giao đất.

- Cần xem xét, quy định lại thời hiệu khởi kiện ít nhất là 10 năm ( giống như thời hiệu khởi kiện của thừa kế ) tính kể từ ngày quyền lợi bị xâm phạm, hoặc có thể kéo dài thời hiệu hơn nữa. Với thời gian kéo dài thêm, các tranh chấp sẽ dần giảm đi tính căng thẳng và khi đó áp dụng hết thời hiệu khởi kiện mới đem lại hiệu quả cao nhất.

-Nhà nước cần rà soát và loại bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết trong việc chuyển quyền sử dụng đất để  người dân thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng đất…tạo điều kiện cho thị trường bất động sản hoạt động lành mạnh.

-Cần tạo thuận lợi hơn nữa cho người dân khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hạn chế những thủ tục rườm rà không cần thiết. Đồng thời phải tuyên truyền cho người dân biết được quyền và nghĩa vụ của mình do pháp luật quy định để thực hiện cho đúng. Tiến hành niêm yết công khai các thủ tục để người dân biết và thực hiện, điều này góp phần hạn chế những tranh chấp đất đai không đáng có xảy ra.

- Phải xây dựng giá đất, giá cả đền bù đảm bảo lợi ích thỏa đáng của người bị thu hồi đất. Trong đó người dân cần được đền bù theo giá thị trường trong điều kiện bình thường. Không nên áp giá do chính quyền địa phương quy định mà nên cho phép các doanh nghiệp thỏa thuận đền bù đất với người sử dụng để có thể linh hoạt hơn, thuận lợi hơn cho công tác giải phóng mặt bằng. Nếu làm được như vậy sẽ hạn chế và giải quyết được rất nhiều những tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến công tác giải phòng mặt bằng, tranh chấp đất đai.

- Cần sửa đổi những quy định của Luật Đất đai năm 2003  theo hướng:  Nếu đơn vị nào trúng thầu mua lại bất động sản là nhà xưởng, công trình gắn liền với đất của doanh nghiệp bị phá sản thì sẽ được tiếp tục thuê đất của Nhà nước ở nơi có bất động sản của doanh nghiệp bị phá sản gắn liền với đất đó.

- Nhà nước cần có quy định cụ thể diện tích một ngôi mộ tối đa là bao nhiêu  để chủ được giao quyền sử dụng đất mà trên đó có mồ mả của người khác có quyền trồng cây hoặc xây dựng công trình kiến trúc trên đất có mộ.

- Để đảm bảo tính thống nhất trong việc giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong các lĩnh vực thuộc quản lý hành chính Nhà nước, cần điều chỉnh thống nhất giữa Luật Đất đai với các Luật khác có liên quan để không còn những bất cập, chồng chéo. Đồng thời các văn bản luật, hướng dẫn áp dụng luật cần rõ ràng,  tránh trường hợp nhiều văn bản khi nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn để giải quyết  từng vụ việc cụ thể lại có nhiều cách hiểu khác nhau , dẫn đến việc áp dụng thực thi cũng khác nhau gây khó khăn trong công tác xét xử.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

 

 
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong phiên tòa hình sự

Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng trong phiên tòa hình sự

 

ThS. Nguyễn Kim Chi - Giảng viên Học viện Tư pháp. 

 

Tranh tụng tại phiên tòa có vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là sự đánh giá kết quả hoạt động của các giai đoạn điều tra, truy tố mà còn có tác dụng to lớn đối với chính giai đoạn xét xử. Đây chính là cơ chế tối ưu nhất để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bị cáo, đảm bảo việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Chính vì tầm quan trọng như vậy nên Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã đề cập đến việc nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án là khâu trung tâm đột phá, quyết định của hoạt động tư pháp, phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

1. Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự

Từ khi Nghị quyết số 08/NQ-TW được quán triệt, hầu hết các vụ án đã được đưa ra xét xử với sự đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở những quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự mới và theo tinh thần cải cách tư pháp của Bộ Chính trị. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thể hiện được tính khách quan, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của cả kiểm sát viên, luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Phiên tòa đã thể hiện được tính dân chủ, bình đẳng giữa những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, bày tỏ quan điểm khác nhau, cùng tranh luận xác định sự thật khách quan. Cùng với việc xét hỏi, Hội đồng xét xử còn chấp nhận luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng xuất trình chứng cứ mới. Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ mới, chứng cứ có trong hồ sơ, chứng cứ đã được kiểm sát viên phân tích, đánh giá khi luận tội bảo vệ cáo trạng, phát biểu tại phiên tòa, quan điểm của kiểm sát viên, của người bào chữa và những người tham gia tố tụng để ra phán quyết cuối cùng.  

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng bên cạnh những phiên tòa xét xử đúng với tinh thần tranh tụng còn có những phiên tòa không đạt yêu cầu.

Có những phiên toà, thẩm phán thiếu trách nhiệm, không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, cẩu thả trong công tác chuẩn bị phiên tòa, trong phiên tòa cũng như trong viết bản án; đánh giá chứng cứ không đầy đủ, không chính xác nên xét xử oan người không có tội, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự, không áp dụng đầy đủ các quy định của pháp luật hoặc các hướng dẫn phải áp dụng trong công tác xét xử... Ngược lại, có những trường hợp do đánh giá chứng cứ không chính xác, nhận thức không đầy đủ về quy định của pháp luật nên lẽ ra phải kết án đối với bị cáo lại tuyên bị cáo không có tội.

Việc bị cáo và đại diện hợp pháp cho bị cáo có mặt tại phiên tòa là những quy định bắt buộc của pháp luật tố tụng hình sự, đó không chỉ là tuân thủ quy định tố tụng mà còn đảm bảo cho bị cáo được bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình qua quá trình tranh tụng. Nhưng trên thực tế vẫn còn có những vụ án khi xét xử vắng mặt bị cáo nhưng không có lệnh truy nã và kết quả truy nã; xét xử bị cáo chưa thành niên mà không có người đại diện hợp pháp của bị cáo hoặc nhà trường tham gia; xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng khác - những người mà pháp luật cho phép tham gia vào quá trình tranh tụng để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. 

 Hồ sơ, chứng cứ được xác lập trong giai đoạn điều tra là rất quan trọng cho việc xét xử tại phiên toà. Tuy nhiên, các chứng cứ có trong hồ sơ là do các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, nhiều trường hợp chưa thể đầy đủ và không loại trừ việc thiếu khách quan. Đặc biệt đối với những vụ án hình sự, trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tố tụng, cho nên đa số các trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chỉ thu thập chứng cứ buộc tội, không chú trọng thu thập chứng cứ gỡ tội, trong khi đó bên bào chữa không được quyền chủ động thu thập chứng cứ làm hạn chế khả năng tranh tụng của họ tại phiên toà.

Luật đã quy định người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ được quyền trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, nếu những người này có luật sư bảo vệ quyền lợi thì luật sư trình bày trước, những người đó bổ sung sau. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều vụ án do hạn chế về thời gian mà thủ tục này bị vi phạm, đương sự không được trình bày hoặc trình bày không hết ý kiến của mình. Thậm chí có trường hợp họ cũng không được xét hỏi ở giai đoạn trước đó. Đây là những vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng và vi phạm tinh thần của tranh tụng tại phiên tòa.

Thực tiễn xét xử hiện nay còn tồn tại thiếu sót của thẩm phán - chủ tọa phiên tòa là khi xét hỏi bị cáo thường thẩm vấn theo hướng buộc tội như cáo trạng của Viện kiểm sát, giúp Viện kiểm sát bảo vệ cáo trạng. Không ít trường hợp kiểm sát viên tham gia phiên tòa trong suốt thời gian xét hỏi không hỏi một câu nào mà chỉ đọc bản cáo trạng rồi ngồi xem Hội đồng xét hỏi khi nào kết thúc phần xét hỏi thì đọc bản luận tội. Vai trò của kiểm sát viên tại phiên tòa chỉ như người chứng kiến, rõ ràng là kiểm sát viên đã không ý thức được mình là một bên không thể thiếu của quá trình tranh luận tại phiên tòa, dường như việc xét hỏi và tranh luận là của Hội đồng xét xử.

Trong phiên tòa, luật sư là một bên của quá trình tranh tụng nhưng nhiều trường hợp, bài bào chữa chỉ mang nặng việc khai thác các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc bắt bẻ về câu chữ, hay những lỗi tố tụng nhỏ mà không đi vào những tình tiết của vụ án một cách toàn diện, để khai thác bảo vệ quyền lợi chính đáng của bị cáo.

2. Nguyên nhân của những hạn chế trong tranh tụng tại phiên tòa hình sự

2.1. Quy định pháp luật chưa đầy đủ, chưa phù hợp

Mặc dù pháp luật TTHS hiện hành của chúng ta đã có những quy định khá tiến bộ về tranh tụng tại phiên toà, như: quy định về bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo tại phiên toà; quy định về nguyên tắc bình đẳng giữa kiểm sát viên với người bào chữa, bị cáo trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Toà án, nhằm bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử… Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) cũng quy định khi xét hỏi và tranh luận, chủ toạ phiên toà không hạn chế thời gian để xét hỏi cũng như để tranh luận... Những quy định này tạo điều kiện cho những người tham gia tố tụng có điều kiện về thời gian để tranh luận bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tuy nhiên, Bộ luật TTHS hiện hành chưa quy định tranh tụng là một nguyên tắc của hoạt động xét xử, vì vậy, trong từng điều luật tại các chương về xét xử cũng chưa thể hiện hết toàn bộ tinh thần của tranh tụng và như thế việc đảm bảo cho tranh tụng tại phiên tòa chưa đạt hiệu quả cao nhất.

Bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể tham gia tranh tụng là một điều kiện cơ bản của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Nó là cơ sở để xác định tư cách tố tụng của người bào chữa, bị cáo không chỉ là một chủ thể mà còn là một bên tham gia tranh tụng bình đẳng với bên buộc tội. Tuy nhiên, việc thể hiện nội dung này tại các điều luật cụ thể vẫn chưa được quy định tại Bộ luật TTHS năm 2003. Ví dụ: tại các điều 187, 189, 190, 245, 280 Bộ luật TTHS quy định, trong mọi trường hợp kiểm sát viên vắng mặt phải hoãn phiên tòa, trong khi đó người bào chữa hoặc bị cáo và các chủ thể khác vắng mặt thì vẫn có thể tiến hành xét xử vụ án. Chúng tôi cho rằng, quy định như vậy là chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng, sự vắng mặt của luật sư và của bị cáo ở phiên tòa sẽ làm cho quá trình tranh tụng mất đi ý nghĩa của nó, bởi thiếu một bên tham gia và một chức năng quan trọng là bào chữa không được thực hiện.

Tại phiên tòa, phán quyết của Tòa án phải dựa trên việc xem xét đánh giá những chứng cứ được đưa ra và tranh luận giữa các bên. Thế nhưng khi qua thẩm tra và đánh giá chứng cứ, nếu xét thấy bị cáo phạm tội khác nặng hơn thì Hội đồng xét xử cũng không có quyền ra phán quyết về tội nặng hơn đó theo quy định tại Điều 196 Bộ luật TTHS. Vì vậy, khi xét thấy bị cáo phạm tội nặng hơn thì Hội đồng xét xử chỉ có thể căn cứ vào Điều 179 Bộ luật TTHS trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Từ đó cho thấy, tranh tụng tại phiên tòa chưa phải là căn cứ có tính quyết định với phán quyết của Tòa án.

Viện kiểm sát là cơ quan đại diện cho Nhà nước thực hành quyền công tố, nói một cách khác, Viện kiểm sát là bên buộc tội, thế nhưng Viện kiểm sát lại kiêm luôn cả chức năng kiểm sát việc xét xử, như vậy rõ ràng là không thể khách quan. Cần phải xác định Viện kiểm sát chỉ thực hành quyền công tố, vì như vậy mới tránh tình trạng vừa đá bóng vừa thổi còi, đồng thời, Viện kiểm sát sẽ chuyên sâu hơn về nhiệm vụ của mình.

2.2. Đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

Đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư hiện nay còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng nói chung, chất lượng xét xử vụ án hình sự nói riêng.

Năng lực, trình độ chuyên môn: năng lực của thẩm phán, kiểm sát viên có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của quá trình tranh tụng tại phiên tòa, được thể hiện ở hai khía cạnh là trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm khi tham gia phiên tòa, đối với thẩm phán là kỹ năng điều khiển phiên tòa và kiểm sát viên là kỹ năng tranh tụng. Trong đó trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có ảnh hưởng rất lớn vì chủ yếu các trường hợp án bị sửa, hủy là do việc nắm và vận dụng pháp luật của thẩm phán và kiểm sát viên còn hạn chế.

Trong những năm gần đây, luật sư đã tham gia nhiều vào tranh tụng trong vụ án hình sự. Tuy nhiên ở nhiều vụ án mà có sự tham gia của luật sư thì việc tranh cãi chỉ xoay quanh quan điểm định tội danh hoặc tìm ra những chỗ chưa hoàn chỉnh của công tác điều tra để “bắt bẻ” chứ rất hiếm khi đưa ra được những bằng chứng phản bác đắt giá... chưa kể sự mâu thuẫn, căng thẳng trong khi tranh cãi thay vì phải xuất phát từ sự cọ xát về chứng cứ, luận điểm thì đôi lúc chỉ vì thái độ, ngôn ngữ mang tính hình thức. Nhiều lúc công đoạn tranh luận chỉ là sự công kích giữa hai phía buộc tội và gỡ tội, tuy là có kịch tính nhưng nhiều khi lại làm mất đi vẻ uy nghiêm của một phiên tòa. Điều này có một phần nguyên nhân từ năng lực của luật sư. Thực tế hiện nay,  do điều kiện kinh tế, bị cáo và người nhà bị cáo không thuê luật sư, cho nên nhiều khi luật sư phải làm thêm các dịch vụ pháp lý khác, chưa kể có người còn có những công việc khác bên cạnh nghề luật sư, nhiều luật sư là cán bộ hưu trí... Những điều này làm cho kinh nghiệm và kỹ năng của luật sư bị dàn trải, hạn chế năng lực chuyên sâu của luật sư.

Đạo đức, ý thức nghề nghiệp: hiện nay còn có một số bộ phận cán bộ tư pháp thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật, làm trái với lương tâm và đạo đức nghề nghiệp để kiếm tiền.

Một số luật sư khi tham gia bào chữa vụ án hình sự không quan tâm đến công việc chuyên môn, tới việc làm rõ các tình tiết của vụ án một cách đầy đủ, toàn diện mà quá coi trọng vật chất, việc làm không trong sáng, làm lộ bí mật điều tra hòng chạy tội cho bị can, bị cáo. Thậm chí có những luật sư tìm cách “chạy án” nhằm gỡ tội cho thân chủ. Chính những biểu hiện, việc làm của luật sư đã tự cản trở việc thực hiện quy định người bào chữa tham gia tố tụng kể từ khi khởi tố vụ án và tiếng nói của luật sư bào chữa trong một vài vụ án chưa được người dân đồng tình, coi trọng .

2.3. Nguyên nhân khác

Cơ chế đảm bảo cho việc tranh tụng tại phiên tòa chưa hợp lý: hiện nay cơ chế để đảm bảo cho việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa còn nhiều vấn đề. Từ việc tạo hành lang pháp lý để tạo ra cơ chế, ý thức của người tham gia tranh tụng đến những quy chế kiểm tra giám sát để đảm bảo thực hiện, với những chế tài nghiêm khắc khi phát hiện vi phạm và kịp thời khen thưởng những trường hợp hoàn thành tốt nhiệm vụ vẫn chưa hoàn thiện. Chẳng hạn, tại phiên tòa, nếu Viện kiểm sát không chủ động xét hỏi làm rõ những tình tiết buộc tội, không đối đáp trực tiếp đúng vấn đề mà luật sư đưa ra; việc ghi lại diễn biến của toàn bộ vụ án tại phiên tòa không chính xác, khách quan thì sẽ xử lý như thế nào? Thu thập tài liệu chứng cứ là việc rất quan trọng để luật sư có thể tham gia tranh luận một cách bình đẳng tại phiên tòa, nhưng nếu Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát gây khó khăn trong việc cấp giấy phép bào chữa cho luật sư thì chế tài nào xử lý? Và rất nhiều vấn đề cần phải có sự quy định cụ thể để tạo ra một cơ chế đồng bộ chuẩn xác cho việc thực hiện tranh tụng.

Cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu: Một nguyên nhân cũng không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo tính trang nghiêm của Tòa án là cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngành Tòa án phần lớn đã xuống cấp, lạc hậu, không phù hợp với yêu cầu của công tác xét xử trong tình hình mới. Một số Tòa án quá chật hẹp, nhiều khi phải xử án tại phòng làm việc, xử án xong lại kê bàn ghế như cũ. Phòng xử như vậy không đảm bảo tính trang nghiêm của Tòa án; chỗ ngồi cho luật sư chật hẹp, không có phòng cách ly người làm chứng và các bên tham gia tố tụng, ảnh hưởng nhiều đến quá trình tranh tụng tại phiên tòa.

Ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân vẫn còn hạn chế: tham gia vào quá trình tranh tụng còn có bị cáo, người bị hại, người liên quan v.v.. nhưng nhận thức, ý thức pháp luật trong một bộ phận nhân dân vẫn còn hạn chế. Họ tham gia vào các giai đoạn tố tụng còn chưa nắm vững được luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình, nên chưa thể ý thức được rằng họ tham gia vào quá trình tố tụng ấy cũng là để bảo vệ pháp luật, giám sát việc thực thi pháp luật của các cơ quan tư pháp, nhất là hiện nay công tác hướng dẫn, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về lĩnh vực tư pháp chưa sâu rộng.

3. Giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự

3.1. Hoàn thiện pháp luật

Để nâng cao hiệu quả hoạt động tranh tụng tại phiên tòa thì điều tiên quyết và quan trọng nhất trong Bộ luật TTHS phải thể hiện rõ tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xét xử, từ đó cụ thể hóa hơn nữa những quy định về tranh tụng tại phiên tòa, tạo ra cơ chế thích hợp và hiệu quả cho quá trình tranh tụng. Từ việc thừa nhận là một nguyên tắc thì tất cả các cơ quan bảo vệ pháp luật và các chủ thể khác tham gia vào quá trình tố tụng đều phải ý thức và hướng mọi hoạt động của họ theo nguyên tắc ấy.

Khi đã coi tranh tụng là vấn đề có tính xuyên suốt trong việc xét xử tại phiên tòa, tức là tại phiên tòa, quyết định của Tòa án chỉ có thể căn cứ vào quá trình tranh tụng, trên cơ sở xem xét, thẩm tra, đánh giá chứng cứ được đưa ra từ các bên một cách khách quan, toàn diện thì vấn đề giới hạn xét xử đối với Tòa án không nên đặt ra nữa. Bởi vì nếu như vậy, dù Tòa án có ra phán quyết vẫn phải dựa trên cơ sở khung, tội mà Viện kiểm sát đưa ra chứ không phải là căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa.

Trong quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nên có vai trò là trọng tài phán quyết vụ án, để việc xét hỏi theo hướng buộc tội là của đại diện Viện kiểm sát và việc xét hỏi theo hướng gỡ tội là của luật sư bào chữa. Tuy nhiên, Bộ luật TTHS hiện nay vẫn có những quy định chưa phù hợp, điều đó làm cho các chủ thể tham gia tranh tụng không nhận thức đúng và đầy đủ về vai trò của mình trong tranh tụng nên không tích cực, chủ động trong việc thực hiện chức năng của mình mà ỷ lại và phụ thuộc vào Tòa án. Mặc dù đã có sự sửa đổi, nhưng quy định tại các điều từ Điều 207 đến Điều 215 như hiện nay vẫn còn đặt quá nặng trách nhiệm chứng minh lên vai Hội đồng xét xử. Theo chúng tôi, các quy định về trình tự thủ tục xét hỏi tại phiên tòa trong Bộ luật TTHS cần phải sửa đổi theo hướng để cho các bên tranh tụng thực hiện trách nhiệm chứng minh và tiến hành xét hỏi là chủ yếu, còn Tòa án thực hiện việc giám sát, duy trì trình tự xét hỏi và có quyền tham gia vào quá trình đó ở bất kỳ thời điểm nào khi thấy cần thiết phải làm sáng tỏ các tình tiết nào đó về vụ án chưa được các bên làm rõ trong quá trình xét hỏi.

Hiện nay, Viện kiểm sát vẫn đồng thời có chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó có kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án. Một cơ quan vừa có thẩm quyền buộc tội, vừa có thẩm quyền giám sát hoạt động của cơ quan khác ra phán quyết về hoạt động buộc tội của mình thì sao có thể bình đẳng và độc lập được. Vì vậy, chức năng giám sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát đối với Tòa án cần phải loại bỏ. Sửa đổi như vậy vừa đảm bảo nhất quán về mặt pháp luật, tạo ra sự độc lập trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của Tòa án vừa tạo điều kiện để Viện kiểm sát tập trung hơn, hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ công tố của mình.

Theo các quy định tại các điều 187, 189, 190, 245, 280 Bộ luật TTHS , trong mọi trường hợp kiểm sát viên vắng mặt phải hoãn phiên tòa trong khi đó người bào chữa hoặc bị cáo và các chủ thể khác vắng mặt thì vẫn có thể tiến hành xét xử vụ án. Chúng tôi cho rằng, quy định như vậy là chưa đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng, nhất là đảm bảo quyền lợi của bị cáo. Sự vắng mặt của luật sư và của bị cáo ở phiên tòa sẽ làm cho quá trình tranh tụng mất đi ý nghĩa của nó bởi thiếu một bên tham gia và một chức năng quan trọng là bào chữa không được thực hiện. Vì vậy cần bổ sung: trong những trường hợp luật sư vắng mặt vì trường hợp bất khả kháng không gửi được bản bào chữa thì Tòa án phải hoãn phiên tòa. Trong trường hợp đó bị cáo có thể mời luật sư khác. Nếu Tòa án đã hoãn phiên tòa theo thời hạn luật định mà luật sư vẫn không thể có mặt và bị cáo không mời luật sư khác thì Tòa án sẽ vẫn tiến hành xét xử.

3.2. Xây dựng cơ chế đảm bảo cho việc thực hiện tranh tụng tại phiên tòa

Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự không thể không đề cập đến cơ chế để đảm bảo thực hiện nó, trong đó có vấn đề tổ chức phiên tòa. Việc tổ chức phiên tòa làm sao phải thể hiện rõ địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ tố tụng) của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Phiên tòa phải đảm bảo để không những nghĩa vụ tố tụng mà các quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng, nhất là của bị cáo được thực hiện đầy đủ. Các cơ quan tiến hành tố tụng như Viện kiểm sát, Tòa án (Hội đồng xét xử) thực hiện đúng chức năng của mình được pháp luật quy định.

Để đảm bảo cho việc tranh luận tại phiên tòa phát huy được tác dụng đích thực của nó, theo chúng tôi:

- Thẩm phán, kiểm sát viên phải nhận thức hồ sơ vụ án chỉ là tài liệu do Cơ quan điều tra thu thập, chưa chắc đã là chính xác, lúc này nguyên tắc giả định bị cáo vô tội phải được quán triệt. Cần thực hiện đúng nguyên tắc “bản án chỉ căn cứ vào những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa”. Và thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 08/NQ-TW việc giải quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật có sức thuyết phục.

- Bị cáo, các đương sự và người bào chữa cho bị cáo, bảo vệ quyền lợi cho đương sự phải chủ động và tích cực đưa ra những chứng cứ, lý lẽ, cơ sở pháp luật để tranh luận với kiểm sát viên cũng như giữa các đương sự trong vụ án. Để tạo điều kiện cho bị cáo tranh luận với kiểm sát viên tại phiên tòa, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện cho bị cáo biết được cụ thể, đầy đủ những chứng cứ, cơ sở pháp lý buộc tội bị cáo có thời gian chuẩn bị hoặc nhờ luật sư tìm ra chứng cứ, lý lẽ, cơ sở pháp lý để thực hiện việc tranh luận tại phiên tòa.

Diễn biến phiên tòa phải bám sát vào quy định của Bộ luật TTHS để không bỏ sót quy trình và đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia tranh tụng, nhưng để thực hiện như vậy cần có cơ chế giám sát và biên bản phiên tòa là nơi thể hiện rõ nhất diễn biến của phiên tòa.

Ngoài ra, cùng với việc tăng về số lượng thì cũng cần nâng cao về chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức của đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư.

Đây là vấn đề liên quan đến quá trình đào tạo bậc đại học, sau đó là đào tạo về nghiệp vụ xét xử, kiểm sát, hành nghề luật sư, sự tự rèn luyện, nâng cao trình độ của cá nhân thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư. Bởi vì công tác đào tạo thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư có chất lượng mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng đội ngũ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về bản lĩnh chính trị, đạo đức trong sáng.

 

NGUỒN: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

 

   

 

 
Kinh doanh hàng hải quốc tế : " Châu chấu đá xe"

Kinh doanh hàng hải quốc tế: “Châu chấu đá xe”

 

Kinh doanh hàng hải quốc tế: “Châu chấu đá xe”

Khi kinh doanh thương mại và hàng hải quốc tế, các DN VN cần chủ động trước những vụ kiện từ phía đối tác nước ngoài

Khi kinh doanh thương mại và hàng hải quốc tế, các DN VN nói chung và các chủ tàu VN nói riêng cần bình tĩnh chủ động tìm hiểu luật pháp quốc tế để xử lý thoả đáng. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình vô can nên không cần hành động gì.

South Shipping (SSP) là một chủ tàu nhỏ ở VN sở hữu duy nhất tàu biển S-1, trọng tải hơn 4.000T. SSP cho một thương nhân Hàn Quốc (TNHQ) thuê định hạn tàu này để họ kinh doanh vận chuyển hàng bách hoá ở khu vực Châu Á. Đầu 2009, SSP  tiếp tục cho DN khác của Hàn Quốc thuê tàu trên  theo cùng hình thức.

Cái lý của “đại gia”Mỹ”

Tháng 6/2009, Văn phòng luật sư D&A ở Hà Nội thay mặt cho một đại gia Mỹ (ĐGM) yêu cầu SSP trả ngay cho thân chủ của họ một khoản nợ tồn đọng từ 2008 trị giá hàng trăm nghìn USD, nếu không họ sẽ bắt giữ tàu  S-1 ở bất cứ cảng nào trên thế giới.  SSP hết sức ngạc nhiên vì họ không hề biết ĐGM là ai và cũng chưa bao giờ liên hệ giao dịch. Vì lẽ đó SSP thẳng thừng từ chối thanh toán khoản tiền vô lý trên. Sau này, qua Văn phòng luật sư D&A, SSP mới vỡ lẽ trong thời gian thuê định hạn, tháng 9/2008 TNHQ có mua của Cty CEN, một DN khác cũng ở Hàn Quốc chuyên kinh doanh loại dầu này, gần 250T dầu với  giá tiền  trên và đã thanh toán đầy đủ. Thực tế CEN đã mua số dầu trên từ chi nhánh ĐGM ở Singapore để cấp cho tàu S-1 khi ghé vào đây lấy hàng như yêu cầu của TNHQ. Trong hợp đồng bán dầu, phía ĐGM  đơn phương ghi vào ô “người mua” không chỉ là CEN mà còn liên đới bao gồm cả bản thân Con tàu, Thuyền trưởng, Chủ tàu, Người quản lý tàu, Người thuê tàu và những ai thực thi quyền chủ tàu. Sở dĩ ĐGM truy đòi SSP vì, trong cơn bão khủng hoảng tài chính 2008 - 2009, CEN đã vỡ nợ,  dựa vào quy định đơn phương trong hợp đồng giữa ĐGM  với CEN, họ yêu cầu SSP phải thanh toán. Hợp đồng bán dầu của ĐGM  quy định mọi tranh chấp, sẽ do toà án Mỹ xét xử theo luật Mỹ. Đầu tháng 9/2009, khi biết tàu S-1 đang dỡ hàng ở một cảng Nhật, ĐGM đã yêu cầu toà án Nhật  ra lệnh bắt giữ tàu và khởi kiện SSP tại toà án Tokyo để đòi khoản tiền trên. SSP ngỏ ý chia sẻ với ĐGM một phần mười của  số tiền trên để họ tìm đúng đối tượng cần kiện. SSP khẳng định đây chỉ là một cử chỉ thiện chí hữu nghị chứ không phải là một sự thừa nhận trách nhiệm pháp lý. Rất lấy làm tiếc ĐGM đã bỏ qua thiện chí của SSP và nhất quyết thúc giục toà Tokyo khởi sự.

Hiểu rằng đây là cuộc chiến “châu chấu đá voi” song không còn lựa chọn nào khác, SSP bắt buộc phải chỉ định một luật sư hàng hải hàng đầu của VN  phối hợp với luật sư Nhật để hầu kiện. Từ tháng 10/2009 đến tháng 5/2010 lần lượt 8 phiên toà đã được mở ra để nghe luật sư hai bên tranh tụng. Phía ĐGM hùng hồn khẳng định vụ kiện này chỉ có thể áp dụng luật Mỹ để xét xử chứ không thể áp dụng luật bất cứ nước nào khác. Theo luật Mỹ, ĐGM có quyền áp dụng chế định kiện bản thân con tàu cũng như chế định quyền cầm giữ hàng hải để bắt giữ tàu và quy kết trách nhiệm cuả SSP. Dựa vào định nghĩa đơn phương của mình về “người mua” như trên họ khẳng định giữa họ và SSP có tồn tại hợp đồng mua bán dầu, hơn thế nữa  phiếu nhận dầu ở Singapore mà Thuyền trưởng ký vào cùng với hoá đơn đều là bằng chứng của hợp đồng  giữa họ và SSP. Ngoài ra ĐGM còn cho rằng thương nhân CEN là đại lý môi giới của SSP trong việc mua dầu, một khi đại lý môi giới không trả được nợ thì người uỷ thác (Principal) phải trả nợ thay.

Chứng cứ của phía VN

Phía SSP cho rằng theo luật Nhật (nơi tàu bị bắt), luật Singapore (nơi bán dầu cho tàu) và luật VN (luật cờ tàu), trong vụ việc này không tồn tại bất cứ một hợp đồng mua bán dầu nào giữa ĐGM và SSP vì vậy không có cơ sở pháp lý để ĐGM thực thi quyền cầm giữ hàng hải nhằm bắt giữ tàu để đòi SSP bồi thường cho ĐGM. Ngay cả trường hợp áp dụng luật Mỹ thì tình hình cũng tương tự. Việc ĐGM liệt kê SSP cùng bản thân Con tàu  cũng như Thuyền trưởng là “người mua liên đới”  trong hợp đồng giữa họ với CEN là việc làm tuỳ tiện, đơn phương, một chiều và đây chỉ là thoả thuận riêng giữa ĐGM và CEN, hoàn toàn không có giá trị pháp lý ràng buộc SSP. Nếu đúng như ĐGM lập luận giữa họ và SSP tồn tại hợp đồng mua bán dầu thì chí ít hai bên cũng phải có một vài chứng cứ ban đầu như Email, Fax hay điện thoại trao đi đổi lại trước khi xác nhận chính thức. Hơn thế nữa, tại sao sau khi cấp dầu cho tàu ở Singapore họ không hề gửi hoá đơn cho SSP để đòi tiền mà chỉ khi bị thất thu từ CEN mới quay sang yêu cầu SSP thanh toán. Bản thân phiếu nhận dầu mà Thuyền trưởng ký vào cũng chỉ nói lên rằng Thuyền trưởng đã nhận một số lượng dầu theo đúng  các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật  quy định, không có bất cứ câu chữ nào trong chứng từ này chỉ ra rằng nó là một bộ phận không tách rời của hợp đồng mua bán dầu. Ngay cả hoá đơn  cũng không nói rằng nó là một bộ phận của hợp đồng. Ngoài ra ĐGM cũng không đưa ra được bằng chứng nào nói  lên rằng SSP đã uỷ quyền cho CEN làm đại lý môi giới mua dầu.  Luật sư VN  nhấn mạnh  theo Điều 37 của Bộ luật hàng hải VN khiếu nại này của ĐGM không phải là loại khiếu nại cho phép họ thực hiện quyền cầm giữ hàng hải để bắt giữ tàu và quy định này trong Bộ luật hàng hải VN cũng hoàn toàn tương đồng với  luật hàng hải Singapore , Anh và Mỹ. Tháng 2/2010, luật sư VN đã cung cấp cho toà Tokyo một án lệ năm 2009 của toà án Mỹ có nội dung tương đồng (Mỹ là nước áp dụng hệ thống luật án lệ). Từ những bằng chứng và lập luận sắc bén và ít có cơ sở bác bỏ của phía SSP, các thẩm phán đã có những câu hỏi ngụ ý về sự vô lý, mâu thuẫn trong lập luận của ĐGM. Có lẽ cảm thấy nếu tiếp tục hầu kiện thì phần thua là khó tránh nên ĐGM lại bắn tiếng tới SSP đề nghị hoà giải. SSP đã chấp nhận đề nghị của ĐGM nhưng chỉ giới hạn ở con số ban đầu. ĐGM đành đồng ý và tự chịu mọi án phí ở toà Tokyo.

Thiết nghĩ, trên thương trường quốc tế nhiều khi các rủi ro tai hoạ ập đến từ những chuyện “không tiền khoáng hậu” như trên không phải hiếm. Vì vậy, khi  kinh doanh thương mại và hàng hải quốc tế, các DN VN nói chung và các chủ tàu VN nói riêng khi gặp phải những trường hợp như vụ việc trên đây cần bình tĩnh chủ động tìm hiểu luật pháp quốc tế để xử lý thoả đáng. Không thể vì mình nhỏ mà chịu thiệt trước một “đại gia” được.

LS Võ Nhật Thăng - Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế VN (VIAC)

 

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 7 của 11
 

ls le trung son cr

Khách hàng

TƯ VẤN PHÁP LUẬT


DỊCH VỤ CUNG CẤP

trong nuoc

nn