Tin tức
Xử án tín dụng: Rối chuyện thế chấp, bảo lãnh
Hiện nay trong rất nhiều vụ tranh chấp tín dụng, tòa thường nhầm lẫn giữa tài sản thế chấp với bảo lãnh.

Gần đây, tranh chấp về hợp đồng tín dụng gia tăng đã làm xuất hiện nhiều tình huống gây tranh cãi giữa các cấp tòa khi giải quyết án, nhất là các tình huống có liên quan đến tài sản thế chấp, bảo lãnh…

Giữa năm 2007, chị T. cần 40 triệu đồng để lo chi phí chữa bệnh cho chồng. Thấy cảnh con dâu khó khăn, cha mẹ chồng chị T. đã ra công chứng làm hợp đồng ủy quyền cho chị T. dùng giấy đỏ của ông bà đem thế chấp ngân hàng vay tiền.

Lỗ hổng về ủy quyền thế chấp

Tháng 9-2007, chị T. đã ký hợp đồng tín dụng vay 500 triệu đồng của Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần A. ở huyện Bình Chánh (TP.HCM). Nửa tháng sau, chị ký tiếp một hợp đồng tín dụng khác vay thêm 200 triệu đồng. Cả hai khoản vay này đều được bảo đảm bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của cha mẹ chồng chị T.

Sau đó, chị T. không trả nợ nên tháng 10-2008 bị Ngân hàng A. khởi kiện. Bốn tháng sau, TAND huyện Bình Chánh xử sơ thẩm đã buộc chị T. phải trả nợ cho Ngân hàng A. Đồng thời, tòa nhận định hợp đồng thế chấp giữa chị T. với Ngân hàng A. là hợp pháp vì chị T. có giấy ủy quyền của cha mẹ chồng. Do đó, tòa đưa đất của cha mẹ chồng chị T. vào làm tài sản thế chấp để bảo đảm các khoản vay của chị T. tại Ngân hàng A.

Chị T. kháng cáo yêu cầu tòa phúc thẩm hủy bỏ phần quyết định đưa đất của cha mẹ chồng chị vào làm tài sản thế chấp. Tháng 5-2009, TAND TP.HCM đã chấp nhận kháng cáo của chị T. Theo tòa, cấp sơ thẩm đã sai khi xác định hợp đồng thế chấp do chị T. lập với Ngân hàng A. là hợp pháp. Bởi lẽ trong hợp đồng thế chấp tài sản không có chữ ký của cha mẹ chồng chị T. trong khi họ là người đứng tên trên giấy tờ đất. Như vậy, hợp đồng thế chấp này không có giá trị pháp lý.

Cho đến nay, bản án phúc thẩm trên vẫn chưa thể thi hành dứt điểm bởi còn gây nhiều tranh cãi về chuyện tài sản thế chấp. Có người ủng hộ hướng giải quyết của tòa sơ thẩm nhưng nhiều người khác lại phản đối. Trong vụ việc trên, bản hợp đồng thế chấp có tên người thế chấp là cha mẹ chồng chị T. nhưng không có chữ ký của họ là không đầy đủ thủ tục. Mặt khác, Ngân hàng A. cũng chưa có tài liệu xác định quyền sử dụng đất của cha mẹ chồng chị T. đã đủ điều kiện thế chấp hay chưa. Việc ngân hàng chấp nhận tài sản thế chấp như vậy là quá sơ hở, dễ dãi…

Nhập nhằng thế chấp với bảo lãnh

Năm 2007, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K. ký hợp đồng cho cơ sở sản xuất gỗ B. vay 5 tỉ đồng trong hai năm. Để bảo đảm cho khoản vay, bên thứ ba là ông NVH đã đứng tên “thế chấp, bảo lãnh” căn nhà của ông tại quận 3 (TP.HCM) trong hợp đồng tín dụng. Sau đó, cơ sở B. không trả nợ nên bị Ngân hàng K. kiện ra TAND TP.HCM yêu cầu phải thanh toán cả nợ gốc lẫn lãi, trường hợp không thanh toán được thì xử lý căn nhà của ông H.

Tháng 11-2011, TAND TP.HCM xử sơ thẩm đã buộc cơ sở B. phải trả nợ cho Ngân hàng A. Tuy nhiên, tòa không chấp nhận yêu cầu xử lý nhà của ông H. bởi theo tòa, hợp đồng thế chấp giữa ông H. với ngân hàng vô hiệu vì trường hợp này không phải là thế chấp mà là bảo lãnh.

Tháng 4-2012, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã sửa án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng K. Theo tòa, hợp đồng mà ông H. ký với ngân hàng có tên là “hợp đồng thế chấp, bảo lãnh”. Hợp đồng này nhằm bảo đảm cho khoản vay của cơ sở B. với ngân hàng nên nó là hợp đồng bảo lãnh chứ không phải là hợp đồng thế chấp như cấp sơ thẩm nhận định. Từ đó, tòa kết luận hợp đồng này hợp pháp, có hiệu lực chứ không vô hiệu.

Một thẩm phán Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM nhận xét: Ở vụ án trên, nếu cơ sở B. dùng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay tại ngân hàng thì đó là giao dịch thế chấp. Còn nếu cơ sở B. dùng tài sản của người khác (như nhà đất của ông H.) để bảo đảm cho khoản vay tại ngân hàng thì đó là giao dịch bảo lãnh. Chính cái tên “hợp đồng thế chấp, bảo lãnh” không rõ ràng giữa cơ sở B. với Ngân hàng K. là nguyên nhân dẫn đến sự nhận định khác nhau giữa các cấp tòa. Cấp sơ thẩm cho rằng đó là tài sản thế chấp, cấp phúc thẩm lại xác định đó là tài sản bảo lãnh.

Cũng theo thẩm phán này, hiện nay trong rất nhiều vụ tranh chấp tín dụng, tòa thường nhầm lẫn giữa tài sản thế chấp với bảo lãnh. Dù tài sản thế chấp hay bảo lãnh cũng đều bị xử lý để thu hồi nợ nhưng nếu xác định không đúng sẽ không ổn, nhất là trong trường hợp tài sản là nhà, đất. Bởi lẽ rất nhiều ngân hàng cho khách hàng vay tiền và nhận tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất của bên thứ ba nhưng thay vì lập hợp đồng bảo lãnh lại lập thành hợp đồng thế chấp. Khi phát sinh tranh chấp, bên thứ ba yêu cầu tòa tuyên hợp đồng vô hiệu và được chấp thuận vì nhiều tòa cho rằng hợp đồng thế chấp này phải được xác lập bằng hình thức bảo lãnh. Việc tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu gây thiệt hại cho các ngân hàng là các khoản cho vay của họ có nguy cơ bị chuyển thành khoản nợ không có đảm bảo.

Sơ sẩy, ngân hàng “mất” tài sản bảo đảm

Tại Quảng Ngãi, một ngân hàng đã cho khách hàng vay một khoản tiền lớn và nhận tài sản bảo đảm là giấy hồng của bên thứ ba nhưng lại lập thành hợp đồng thế chấp. Khi khách hàng không trả nợ, ngân hàng xử lý tài sản bảo đảm thì bên thứ ba khởi kiện yêu cầu tòa tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu.

Xử sơ thẩm, TAND tỉnh Quảng Ngãi đã chấp nhận yêu cầu này. Theo tòa, trong trường hợp này, đáng lẽ các bên phải ký hợp đồng bằng hình thức bảo lãnh chứ không phải thế chấp. Sau đó, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng cũng y án sơ thẩm.

Ngân hàng gặp khó

Việc xử lý tài sản bảo đảm tại các ngân hàng hiện nay đang gặp vướng mắc, một phần do trình độ, khả năng của cán bộ ngân hàng nhưng phần lớn vẫn là do thủ tục phức tạp, cơ chế pháp lý chưa phù hợp…

Chẳng hạn nhiều bất động sản thế chấp tại ngân hàng dù đầy đủ thủ tục nhưng khi cần, ngân hàng vẫn không thể tự bán. Nghị định 163 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm cho phép nhưng BLDS lại quy định người đứng tên trong hợp đồng mua bán phải là chủ bất động sản hay người đại diện hợp pháp của chủ bất động sản. Do đó, nếu chủ bất động sản không đồng ý, phản đối thì không thể thực hiện thủ tục sang tên đổi chủ cho bất động sản đó.

Gặp trường hợp này, để có quyền bán bất động sản hợp pháp thì ngân hàng phải khởi kiện. Nhưng thực tế, một vụ án có khi phải trải qua nhiều năm, qua rất nhiều cấp xét xử… Khi án có hiệu lực, nếu ngân hàng thắng kiện cũng chưa chắc có thể xử lý tài sản.

Một cán bộ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn

Cẩn thận không thừa

Luật cho phép cá nhân được nhận ủy quyền của người khác để thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi ủy quyền, kể cả việc dùng tài sản thế chấp, bảo lãnh vay tiền ngân hàng. Tuy nhiên, nhiều trường hợp việc ủy quyền được thực hiện không đúng mà các ngân hàng lại không để ý, dẫn đến gặp bất lợi khi xử lý tài sản bảo đảm. Ví dụ nhận tài sản thế chấp, bảo lãnh mà ngân hàng lại không buộc người đứng tên tài sản ký tên...

Kiểm sát viên NGUYỄN ANH ĐỨC, huyện Bố Trạch (Quảng Bình)

Nguồn phapluattp.vn

 
Luật ly hôn hiện hành: Kẻ có lỗi huênh hoang, người chịu oan khóc vùi
Khi một đôi vợ chồng đã dẫn nhau đến chốn tụng đình, hẳn rằng cuộc hôn nhân đó đã không thể cứu vãn được nữa. Thế nhưng, trên thực tế, có nhiều lúc sự đổ vỡ của hôn nhân lại chỉ đến từ một phía, đã khiến cho phía còn lại phải chịu thiệt thòi về tình cảm và vật chất. Bên cạnh đó, về phương diện pháp lý, căn cứ ly hôn theo luật hiện hành cũng khá nhiều kẽ hở…
Nên chăng pháp luật cần quy định cụ thể hơn căn cứ ly hôn?
Nên chăng pháp luật cần quy định cụ thể hơn căn cứ ly hôn?

Nước mắt người vợ trẻ

Là con gái út của một gia đình công chức, Hằng Nga cứ nghĩ rằng cuộc hôn nhân của cô sẽ êm đềm trôi như bố mẹ cô và bố mẹ chồng, vì hai gia đình vốn là bạn cùng học với nhau từ xưa và cũng có ý tác thành cho đôi trẻ. Vừa hay thuận lòng cha mẹ, Hằng Nga và Thanh Bình – chồng cô hiện giờ, cũng quý mến nhau ngay từ thuở nhỏ. Nhưng đời mấy ai học chữ ngờ, cuộc hôn nhân của Hằng Nga cũng vậy.

Sau một thời gian đầu gối tay ấp, Thanh Bình chồng cô bỗng dưng phát sinh chứng chán vợ. Nguyên nhân thì theo lời anh ta là do vợ tăng cân sau khi sinh nở, không còn mi nhon như ngày xưa nữa, mà gu phụ nữ của anh ta chỉ là những phụ nữ bé nhỏ vì bản thân anh cũng chẳng cao to gì với chiều cao khiêm tốn 1m59.

Để thể hiện sự chán vợ của mình, chồng Hằng Nga thường xuyên có những cuộc đi với nhiều lý do như họp, thăm bạn ốm, sinh hoạt lớp cũ, gặp đối tác… đến tận 11, 12 giờ đêm mới về và khi về là ôm gối ra ghế sô pha ở phòng khách ngủ. Thậm tệ hơn, anh ta còn công khai mối quan hệ yêu đương của mình với một cô bạn học cũ.

Mặc sự đau buồn, khuyên răn, rồi khóc lóc của vợ, mặc sự giáo dục, trao đổi của bố mẹ đôi bên, 6 tháng kể từ khi xảy ra chuỗi “sự kiện” chán vợ, đợi cho đứa con  chung đủ 12 tháng tuổi theo luật định, Thanh Bình đơn phương đệ đơn ra tòa xin ly hôn.

Tại tòa, trong khi chồng một mực đòi ly dị, thậm chí dọa sẽ tự tử ngay tại chỗ nên tòa không xử theo ý, thì Hằng Nga vẫn bình tĩnh trình bày mọi lý lẽ, chứng minh sự nông nổi, nhất thời của chồng và ngỏ ý định muốn gia đình đoàn tụ. Thấy sự việc chưa đến nỗi trầm trọng tòa hòa giải đôi bên. Nhưng chỉ sau đó một thời gian, anh ta lại tiếp tục để đơn ra tòa và lần này để “chắc ăn”, còn thuê hẳn luật sư. Quá chán với thói đời đen bạc và sự trở mặt của người chồng tồi tệ, Hằng Nga đồng ý ly hôn.

Ly hôn - quyền tự do của vợ chồng, nhưng không có nghĩa là tự do tuyệt đối?

Cụ thể, Điều 89 Luật Hôn nhân&Gia đình năm 2000 quy định khi “Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Tòa án cho quyết định ly hôn…”.

Như vậy, theo quan điểm lập pháp, việc giải quyết ly hôn phải dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân chứ không dựa vào lỗi của vợ hoặc chồng. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của người thực thi luật thì khái niệm “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” khi áp dụng vào thực tiễn xét xử các vụ ly hôn lại rất chung chung, trừu tượng và khó xác định.

Để hướng dẫn cách vận dụng điều luật, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 đã chỉ rõ: được coi là tình trạng vợ chồng trầm trọng khi vợ chồng không yêu quý, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ chồng luôn có hành vi ngược đãi hành hạ nhau; vợ chồng không chung thủy với nhau…

Theo phân tích của TS Nguyễn Thị Lan, giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự - ĐH Luật Hà Nội, thì với cách giải thích này, việc xác định bản chất của cuộc hôn nhân lại dựa chủ yếu vào lỗi của vợ hoặc chồng trong khi đó theo quan điểm lập pháp, việc giải quyết ly hôn phải dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân chứ không dựa vào lỗi của vợ hoặc chồng.

Mặt khác, theo TS Lan, cách giải thích này cũng có thể dẫn tới cách hiểu là cả hai vợ chồng đều phải có lỗi thì mới đủ cơ sở giải quyết ly hôn, trong khi đó hầu hết các trường hợp ly hôn đều xuất phát từ việc một trong hai bên có lỗi, còn trường hợp cả hai bên vợ chồng phạm lỗi tuy vẫn có nhưng không nhiều.

Rất nhiều vụ ly hôn đã và đang diễn ra khi một bên vợ hoặc chồng phạm lỗi (ngoại tình, ngược đãi…) nhưng lại đứng nguyên đơn xin ly hôn, trong khi người còn lại là nạn nhân thì không muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng, như câu chuyện của Hằng Nga nói trên.

Theo quan điểm của TS Lan, việc quy định căn cứ ly hôn theo luật hiện hành sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng áp dụng luật không thống nhất và khiến cho những người thực thi pháp luật khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể, đặc biệt là nạn nhân nữ.

Vì thế, nên chăng pháp luật cần quy định cụ thể hơn căn cứ ly hôn, có thể kết hợp giải quyết ly hôn dựa vào cả bản chất quan hệ hôn nhân và cả ly hôn có lỗi vì xét về bản chất, ly hôn là quyền tự do của vợ chồng, nhưng quyền tự do đó phải được kết hợp hài hòa với lợi ích gia đình và xã hội.

Nếu xét theo quan điểm này, thì trong một vụ ly hôn, bên có lỗi nhất thiết phải gánh chịu hậu quả bất lợi khi giải quyết ly hôn như bồi thường thiệt hại hậu quả hành vi, hạn chế quyền trực tiếp nuôi con hay hậu quả bất lợi trong việc chia tài sản…

TS Nguyễn Thị Lan, giảng viên Khoa Pháp luật Dân sự - ĐH Luật Hà Nội:

“Việc quy định căn cứ ly hôn như luật hiện hành dẫn đến việc áp dụng luật không thống nhất. Khi giải quyết một vụ ly hôn, người thẩm phán phải dựa cả vào niềm tin nội tâm của mình, vì vậy, không tránh khỏi tính chủ quan, phiến diện, thậm chí không loại trừ cả vấn đề tiêu cực trong giải quyết ly hôn”

Nguồn theo phapluatvn.vn

 

 
Vấn đề hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam

Vấn đề hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam

 

TS. Bùi Xuân Hải - Trưởng khoa Luật Thương mại, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh

 

Vấn đề hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam

 

Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) trong công ty cổ phần (CTCP) gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của công ty1. ĐHĐCĐ thông qua các quyết định đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình qui định tại Điều 96 Luật Doanh nghiệp (Luật DN) 2005 và Điều lệ CTCP. Luật DN 2005 đã qui định chi tiết về trình tự, thủ tục triệu tập họp; thể thứ tiến hành cuộc họp và thông qua các quyết định của ĐHĐCĐ. Những qui định chi tiết như vậy sẽ góp phần ở mức độ nhất định trong việc bảo vệ quyền lợi cổ đông nói chung và cổ đông thiểu số nói riêng2. Song, không phải mọi quyết định của ĐHĐCĐ cũng đúng qui định của pháp luật và điều lệ công ty3.  Một quyết định trái qui định của pháp luật và điều lệ công ty có thể gây thiệt hại nhất định cho công ty và các cổ đông, nhất là cổ đông thiểu số4. Vì thế, quyền yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ trong một số trường hợp nhất định cũng là một quyền quan trọng giúp bảo vệ quyền lợi cổ đông.

Luật Công ty 1990 không có qui định về vấn đề yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ, nhưng quyền yêu cầu này đã bắt đầu được ghi nhận trong Luật DN 1999, điều này cho thấy một điểm tiến bộ của pháp luật công ty Việt Nam5. Theo Điều 107 Luật DN 2005 thì trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được biên bản họp ĐHĐCĐ hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến ĐHĐCĐ, cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), giám đốc/tổng giám đốc (GĐ/TGĐ), Ban Kiểm soát (BKS) có quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài xem xét, huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ trong các trường hợp sau đây: (i) trình tự và thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ không thực hiện đúng theo quy định của Luật DN và Điều lệ công ty; và (ii) trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.

Như vậy, Luật DN 2005 đã qui định rõ về chủ thể có quyền yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ trong đó có các cổ đông mà không giới hạn số cổ phần sở hữu và thời gian sở hữu. Như thế, Luật DN 2005 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tất cả cổ đông, cho dù chỉ sở hữu một cổ phần vẫn có quyền yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế xung quanh quyền yêu cầu hủy quyết định ĐHĐCĐ của các cổ đông.

Thứ nhất, về căn cứ để yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ.

Theo Điều 107 Luật DN 2005 thì căn cứ để yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ là: (i) trình tự và thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ không thực hiện đúng theo quy định của Luật DN 2005 và Điều lệ công ty; và (ii) trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty6. Từ những qui định trên và thực tiễn thi hành cho thấy, Luật DN 2005 chưa qui định rõ mức độ sai trái, hoặc mức độ vi phạm trình tự, thủ tục họp và ra quyết định so với các qui định về trình tự thủ tục triệu tập là như thế nào. Ví dụ, nếu CTCP bỏ sót quyền dự họp của một vài cổ đông chiếm chưa đến 0,1% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, hoặc cử ban kiểm phiếu gồm năm người chứ không phải là ba người theo qui định (Điều 103.2.d), hoặc hình thức thu thẻ biểu quyết không theo kiểu qui định tại Điều 103.5 thì có nên là lý do để hủy bỏ kết quả của cuộc họp đó hay không? Đối với các CTCP đại chúng,7 nhất là công ty niêm yết hiện nay, thì làm sao ba người có thể kiểm phiếu xong số phiếu biểu quyết khổng lồ của nhiều ngàn người tham dự với số cổ phần tính toán lên đến vài trăm triệu phiếu? Làm sao công ty niêm yết có thể biểu quyết từng vấn đề, tổ chức thu phiếu biểu quyết lần lượt theo kiểu mà Luật DN 2005 qui định trong khi chỉ có ba thành viên ban kiểm phiếu. Theo chúng tôi, Luật DN 2005 không cần qui định quá chi tiết về kỹ thuật, tình tiết quá nhỏ của cuộc họp để sau đó nó có thể trở thành một lý do để hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ. Những vi phạm đơn giản, rõ ràng không làm ảnh hưởng đến kết quả cuộc họp, đến việc ra quyết định và lợi ích của công ty cũng như cổ đông thì không nên là lý do hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ. 

Trong thực tiễn, Tòa án nhân dân (TAND) đã hủy nhiều quyết định của ĐHĐCĐ do CTCP không thực hiện đầy đủ, triệt để các qui định về triệu tập và thể thức họp ĐHĐCĐ. Theo một nghiên cứu gần đây thì 23 trong số 24 vụ TAND huỷ quyết định của ĐHĐCĐ có lý do là thủ tục, trình tự triệu tập và tiến hành cuộc họp không đúng qui định8. Chẳng hạn, trong vụ án về yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ tại CTCP Vận tải hành khách Thanh Xuân, TAND TP. Hà Nội đã hủy quyết định của ĐHĐCĐ vì cho rằng, trình tự họp và biểu quyết tại đại hội là sai Luật DN 2005 và Điều lệ công ty, trong đó có những vi phạm như: cử hai thư ký ghi biên bản mà không được đại hội thông qua;9 không phát thẻ biểu quyết và thu thẻ theo qui định tại Điều 103.5 Luật DN 200510.  Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội cũng đã sửa Bản án sơ thẩm số 18/2007/KDTM-ST của TAND TP. Hải Phòng, hủy quyết định của ĐHĐCĐ CTCP Sách Hải Phòng do không gửi tài liệu cuộc họp cho cổ đông dự họp11. Bản án số 04/2009/KDTM-ST của TAND tỉnh Quảng Bình cũng hủy Quyết định của ĐHĐCĐ CTCP Du lịch nước khoáng Cosevco do nhóm cổ đông sở hữu 44,85% cổ phần lại đề cử năm ứng cử viên bầu HĐQT và cho giơ tay biểu quyết thông qua quyết định. Bản án số 208/2008/KDTM-PT của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội hủy quyết định của ĐHĐCĐ CTCP Giống cây trồng Hà Tây vì đã không bầu ban kiểm phiếu đúng theo Luật DN 2005, không tiến hành biểu quyết từng vấn đề và thu từng thẻ biểu quyết theo Luật DN 2005, sau khi bế mạc cuộc họp bảy ngày mới thông báo đính chính kết quả kiểm phiếu cho cổ đông. Đây là những ví dụ thực tế về việc huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ, trong đó có những lý do hợp lý, song cũng có những lý do chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và đặc điểm của các CTCP đại chúng hoá cao.

Thứ hai, Luật DN 2005 qui định việc cổ đông có quyền yêu cầu Tòa án hay Trọng tài xem xét, hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ. Tuy nhiên, theo Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 và Luật Trọng tài thương mại 2010 (có hiệu lực từ năm 2011) thì Trọng tài không thể thụ lý giải quyết yêu cầu này, trừ phi chúng ta quan niệm yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ là tranh chấp thương mại, xác định được các bên tranh chấp cụ thể và có thỏa thuận trọng tài. Nếu căn cứ theo pháp luật hiện hành thì qui định cho Trọng tài giải quyết yêu cầu huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ là bất hợp lý, không thuyết phục.

Hơn nữa, vấn đề yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ CTCP có phải là tranh chấp kinh doanh, thương mại hay không vẫn còn là một chủ đề tranh cãi trong các thẩm phán của TAND. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2004, nếu quan niệm yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ là một tranh chấp kinh doanh, thương mại (theo Điều 29) thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết nó như một vụ án, thủ tục tố tụng này khác với quan niệm yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ chỉ là yêu cầu về kinh doanh, thương mại (theo Điều 30) và giải quyết theo thủ tục tố tụng đối với việc dân sự. Ví dụ về ba vụ việc yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ của CTCP sản xuất - thương mại - dịch vụ (SX-TM-DV) Đay Sài Gòn, CTCP 565 và CTCP Khách sạn Phan Thiết dưới đây cho thấy các thẩm phán có cách nhìn khác nhau về vấn đề này:

Trong vụ tranh chấp tại CTCP SX-TM-DV Đay Sài Gòn,12 Tòa kinh tế TAND TP. Hồ Chí Minh đã giải quyết hai đơn khởi kiện (ông Nguyễn Văn Khảm khởi kiện yêu cầu ông Trần Hải Âu và HĐQT bị bãi nhiệm phải bàn giao công việc, tài liệu, sổ sách, cơ sở vật chất và con dấu của Công ty cho HĐQT mới. Ông Trần Hải Âu cũng khởi kiện yêu cầu hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ về bầu HĐQT mới, không chấp nhận bàn giao) trong cùng một vụ án và đã ra Bản án số 511/2006/KDTM-ST ngày 12/10/2006. Bản án sơ thẩm đã bị kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm TAND tối cao. Tòa Phúc thẩm cho rằng, đã có vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng trong việc nhập hai quan hệ tranh chấp làm một và yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ không phải là tranh chấp kinh doanh, thương mại, do vậy đã tuyên hủy Bản án sơ thẩm và yêu cầu giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Ngày 28/9/2007, TAND TP. Hồ Chí Minh đã ra Quyết định số 1875/QĐVDS-KDTM-ST tuyên hủy quyết định của ĐHĐCĐ, với tính cách là một việc dân sự.13 Như vậy, việc yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ CTCP SX-TM-DV Đay Sài Gòn đã được TAND TP. Hồ Chí Minh và Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh xếp vào loại yêu cầu về kinh doanh, thương mại (việc dân sự) chứ không phải là tranh chấp kinh doanh, thương mại (vụ án dân sự). 

Tuy nhiên, chỉ một thời gian ngắn sau đó, Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP.Hồ Chí Minh lại thay đổi hẳn quan điểm khi coi yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ CTCP 565 là tranh chấp kinh doanh, thương mại (vụ án dân sự) chứ không phải yêu cầu về kinh doanh, thương mại (việc dân sự). Cổ đông Nguyễn Nhựt Cao khởi kiện yêu cầu TAND TP.Hồ Chí Minh hủy quyết định ĐHĐCĐ ngày 17/5/2008 của ĐHĐCĐ CTCP 565. Tòa kinh tế TAND TP. Hồ Chí Minh cho rằng, đây là yêu cầu về kinh doanh, thương mại theo Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 cho nên đã tiến hành thụ lý và giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự chứ không phải là một vụ án. Ngày 30/9/2008, Tòa Kinh tế đã ra Quyết định số 1664/2008/KDTM-ST tuyên hủy quyết định của ĐHĐCĐ của CTCP 565. Tuy nhiên, khi đương sự kháng cáo, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.Hồ Chí Minh lại cho rằng, đây là một tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty cho nên phải là vụ án kinh doanh, thương mại và kết luận rằng, TAND TP. Hồ Chí Minh đã vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng cho nên đã xử hủy quyết định sơ thẩm và yêu cầu Tòa án xét xử lại theo tố tụng vụ án dân sự14.  Trước đó, khi giải quyết yêu cầu hủy Quyết định ĐHĐCĐ ngày 02/05/2003 CTCP Khách sạn Phan Thiết, TAND tỉnh Bình Thuận đã xếp bị đơn là Quyết định ĐHĐCĐ ngày 02/05/2003 (Bản án kinh tế sơ thẩm số 03/KTST ngày 10/09/2003 TAND tỉnh Bình Thuận) trong khi theo pháp luật tố tụng dân sự thì đương sự của vụ án chỉ có thể là cơ quan, tổ chức, cá nhân chứ không thể là một quyết định của ĐHĐCĐ15.

Như vậy, yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ được các thẩm phán giải quyết khác nhau trong đường lối xét xử, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các cổ đông bởi vì họ phải chờ đợi quá lâu, phải qua nhiều lần xét xử mới có phán quyết cuối cùng của Tòa án. Hơn nữa, các công ty và cổ đông cũng không biết chắc chắn về kết quả giải quyết vụ việc sẽ như thế nào và lúng túng trong việc khởi kiện. Về vấn đề yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ, Tòa kinh tế TAND tối cao cho rằng đây là loại việc dân sự chứ không có tranh chấp, không phải là vụ án kinh doanh, thương mại16. Tòa kinh tế TAND tối cao cũng yêu cầu Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có ý kiến hướng dẫn, chỉ đạo về vấn đề này để đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất trong phạm vi toàn quốc, nhưng cho đến nay, TAND tối cao vẫn chưa có văn bản chính thức về vấn đề này.

Thứ ba, Luật DN 2005 chưa qui định rõ ràng về vấn đề thi hành (hiệu lực pháp lý) quyết định của ĐHĐCĐ trong quá trình tố tụng (cho đến khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án về việc hủy hay không hủy quyết định của ĐHĐCĐ). Chúng tôi xin đưa ra tình huống giả định sau: nếu ĐHĐCĐ của CTCP X ra nghị quyết vào ngày 15/4/2009,  đến ngày 25/6/2009 thì cổ đông A yêu cầu Tòa án xem xét hủy quyết định của ĐHĐCĐ. Khoảng hai tháng sau, Tòa án mới ra quyết định giải quyết, quyết định này lại bị kháng cáo. Đến tháng 10/2009 thì Tòa án mới ra quyết định cuối cùng. Vậy, trong suốt sáu tháng đó, quyết định của ĐHĐCĐ có được thi hành hay phải tạm đình chỉ thi hành? Trong cả hai trường hợp, vấn đề đều rất khó khăn cho công ty. Giả sử Tòa án tuyên hủy quyết định của ĐHĐCĐ về kết quả bầu cử HĐQT và BKS, thì các quyết định, các giao dịch, hợp đồng mà HĐQT mới thực hiện trong suốt sáu tháng đó có hiệu lực pháp lý bắt buộc với công ty hay không? Công ty có quyền thực hiện đăng ký thay đổi người đại diện theo pháp luật hay không? Hậu quả sẽ thật là nặng nề cho cả công ty, cổ đông, những người liên quan và đối tác của công ty, nếu chúng ta coi tất cả những quyết định, giao dịch do HĐQT được bầu không hợp pháp này vô hiệu.

Theo quan điểm của Tòa kinh tế TAND tối cao thì trong thời gian Tòa án chưa ra bản án có hiệu lực pháp luật tuyên hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ thì quyết định của ĐHĐCĐ vẫn có hiệu lực pháp luật17. Nếu theo quan điểm này của Tòa kinh tế TAND tối cao thì công ty có quyền thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh theo quyết định của ĐHĐCĐ về tăng vốn điều lệ và bầu HĐQT mới. Nhưng, nếu sau này, Tòa án tuyên hủy quyết định của ĐHĐCĐ thì phải thay đổi lại giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, song, vấn đề cổ phần mới đã phát hành (nếu có) theo quyết định của ĐHĐCĐ thì giải quyết như thế nào? Chúng tôi đồng ý với quan điểm này của Tòa kinh tế TAND tối cao, song, nếu công nhận tất cả các giao dịch, hợp đồng, quyết định của HĐQT là hợp pháp thì xác định trách nhiệm của những cá nhân liên quan như thế nào sẽ là vấn đề cần phải xem xét.

Từ những phân tích trên, chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau đây:

Một là, để hạn chế việc TAND hủy bỏ quyết định của ĐHĐCĐ vì những vi phạm nhỏ nhặt, đơn giản mà rõ ràng không nghiêm trọng, không ảnh huởng đến kết quả cuộc họp ĐHĐCĐ cũng như lợi ích của công ty và các cổ đông, Luật DN 2005 nên sửa đổi Điều 107 theo hướng Tòa án chỉ hủy các quyết định có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục, trình tự mà pháp luật và điều lệ qui định. Tuy nhiên, thế nào là vi phạm nghiêm trọng sẽ cần có hướng dẫn thêm của TAND tối cao. Hoặc giải pháp thứ hai là Luật DN 2005 cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng không qui định quá chi tiết về thủ tục triệu tập họp và thể thức họp ĐHĐCĐ vì thực tiễn số lượng và cơ cấu cổ đông của các CTCP rất khác nhau, sự qui định cứng nhắc sẽ kém linh hoạt và hiệu quả, không phù hợp đối với các CTCP đại chúng, nhất là các công ty niêm yết.

Không nên bắt buộc CTCP phải gửi thông báo mời họp và tài liệu cuộc họp theo “phương thức bảo đảm” đến địa chỉ thường trú của cổ đông, bởi vì khoản chi phí này sẽ rất lớn cho các công ty niêm yết, đặc biệt là khi có nhiều cổ đông ở nước ngoài; trong khi chúng ta có thể cho phép sử dụng các phương tiện điện tử để mời họp, tham dự họp và biểu quyết. Gần đây, Liên minh Châu Âu đã ra Chỉ thị (Directive 2007/36/EC) yêu cầu các nước thành viên phải cho phép các công ty niêm yết tạo cơ hội cho cổ đông tham gia họp ĐHĐCĐ dưới mọi hình thức bằng phương tiện điện tử, không cần hiện diện trực tiếp, cổ đông được quyền biểu quyết bằng phương tiện điện tử hoặc bằng thư và có thể bỏ phiếu trước cuộc họp . Những kinh nghiệm này của Liên minh Châu Âu nên được tiếp nhận tại Việt Nam

Luật DN 2005 (Điều 103.8) cho phép hoãn cuộc họp của ĐHĐCĐ, nhưng lại chưa qui định cụ thể về điều kiện để họp lại và thể thức tiến hành, chẳng hạn về tỷ lệ tối thiểu cổ đông tham dự, về việc tham dự của các cổ đông đã vắng mặt tại cuộc họp bị hoãn… Chúng tôi đề nghị Luật DN cần qui định cụ thể thêm về các vấn đề này.

Hai là, theo chúng tôi, yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ cần phải được xem như một yêu cầu về xem xét tính hợp pháp của một quyết định, nó cần được giải quyết theo thủ tục tố tụng việc dân sự đối với yêu cầu về kinh doanh, thương mại (Điều 30) chứ không phải là tranh chấp kinh doanh, thương mại (Điều 29 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004). Để áp dụng thống nhất trong phạm vi cả nước, đề nghị Hội đồng thẩm phán TAND tối cao cần có hướng dẫn cụ thể về việc này.

Ba là, Luật DN 2005 cần bổ sung qui định: Trong thời gian quyết định của ĐHĐCĐ đang bị Tòa án xem xét hủy bỏ thì nó vẫn có hiệu lực pháp luật cho đến khi có quyết định có hiệu lực của Tòa án hủy bỏ nó; trong suốt thời gian này, những người thực tế đang quản lý, điều hành công ty phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do hành vi không đúng pháp luật và điều lệ gây ra.

(1) Điều 96.1 Luật DN 2005. Về điều kiện thông qua các quyết định của ĐHĐCĐ, xem Điều 104.3 và 104.5 của Luật DN 2005.

(2) Xem Bùi Xuân Hải, Bảo vệ cổ đông: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn trong Luật Doanh nghiệp 2005, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 1/2009, tr.27-29. Cũng cần lưu ý rằng, Luật DN 2005 không có định nghĩa về cổ đông thiểu số, song, những qui định trong đạo luật này thể hiện rõ ràng việc bảo vệ cổ đông thiểu số khá mạnh. Về nhận diện cổ đông thiểu số, xem thêm Bùi Xuân Hải, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo vệ cổ đông thiểu số, Tạp chí Khoa hoc pháp lý số 3/2010, tr. 24-26

(3) Trong một nghiên cứu năm 2008, số liệu điều tra cho thấy 92% các nghị quyết của ĐHĐCĐ do HĐQT chuẩn bị đã được thông qua mà ĐHĐCĐ không hề có bổ sung mới. Điều này cho thấy sự tác động và vai trò quá lớn của HĐQT đối với các quyết định của ĐHĐCĐ. Xem Trần Đình Cung, Bàn về quyền của cổ đông và ĐHĐCĐ: Thực trạng và vấn đề cần khắc phục, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam, 5/2008, tr.6-7

(4) Bình luận về vấn đề bảo vệ cổ đông thiểu số, xem thêm Quách Thuý Quỳnh, Quyền của cổ đông thiểu số theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Luật học, số 4/2010, tr. 21-22.

(5) Theo Điều 79 Luật DN 1999 thì trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày quyết định được thông qua, cổ đông, thành viên HĐQT, GĐ/TGĐ và BKS có quyền yêu cầu Tòa án xem xét huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ nếu (i) trình tự và thủ tục triệu tập họp ĐHĐCĐ không thực hiện đúng theo quy định của Luật DN và Điều lệ công ty; và (ii) nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty.

(6) So với qui định tại Điều 79 Luật DN 1999, Điều 107 Luật DN 2005 đã mở rộng hơn căn cứ huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCD khi thêm cụm từ ‘trình tự, thủ tục ra quyết định’ vào căn cứ thứ hai.

(7) Theo Điều 25 Luật Chứng khoán 2006 thì công ty đại chúng là CTCP thuộc một trong 3 loại hình sau đây: a) Công ty đã thực hiện chào bán cổ phiếu ra công chúng; b) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán; c) Công ty có cổ phiếu được ít nhất 100 nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vốn điều lệ đã góp từ 10 tỷ đồng trở lên.

(8) Lê Thị Hiền, Tranh chấp nội bộ công ty theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, TP.HCM, 2010, tr. 62.

(9) Trong khi theo qui định tại  Điều 103.2.c của Luật DN 2005 thì cuộc họp ĐHĐCĐ chỉ có một thư ký.

(10) Bản án số 52/2007/KDTM-ST ngày 15/5/2007 của TAND TP.Hà Nội.

(11) Bản án số 244/2007/KDTM-PT ngày 6/12/2007; xem thêm Lê Thị Hiền, tlđd, tr. 59.

(12) Xem thêm các tình tiết của vụ việc này tại Báo Tuổi trẻ ngày 13/10/2006, 27/4/2007, Sài Gòn Giải phóng ngày 14/7/2007, 10/10/2006; 27/6/2006, 29/6/2006; Công an TP.HCM ngày 21/7/2007. Đây là một vụ tranh chấp nội bộ công ty khá phức tạp và kéo dài, chính quyền thành phố Hồ Chí Minh cũng đã phải can thiệp, chỉ đạo giải quyết.

(13) Bản án sơ thẩm số 531/2007/KDTM-ST ngày 04/4/2007 của TAND TP. Hồ Chí Minh; Bản án phúc thẩm số 82/2007/KDTM-PT ngày 28/8/2007 của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP. Hồ Chí Minh.

(14) Xem Quyết định 1664/2008/KDTM-ST ngày 30/9/2008 của TAND TP.HCM và Quyết định 11/2009/QĐKDTM-PT ngày 15/01/2009 của Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM

(15) Theo qui định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 (Điều 19) và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994 (Điều 20) thì đương sự của vụ án chỉ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân. Hiện nay Điều 56 Bộ luật TTDS 2004 quy định “đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”.

(16) Tòa kinh tế - TAND tối cao, Tham luận tại Hội nghị tổng kết ngành Tòa án năm 2009 và triển khai nhiệm vụ năm 2010.

(17) Tòa Kinh tế - TAND tối cao, Tham luận về tình hình thụ lý giải quyết các vụ việc kinh doanh thương mại năm 2007, tr. 12.

 

 

NGUỒN: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT

 
Cải cách thủ tục pháp lý: Chặng đường gian nan của các Bộ

Cải cách thủ tục pháp lý: Chặng đường gian nan của các Bộ

Luật sư Trần Hữu Huỳnh

 

- Lần đầu tiên, cảm nhận doanh nghiệp về các Bộ được lượng hoá bằng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các bộ (Ldea 2010) được VCCI công bố. Tuy nhiên, rất ít Bộ được xếp hạng cao. Điều này đòi hỏi các Bộ cần phải nỗ lực hết sức để làm sao cải thiện môi trường kinh doanh lành mạnh.

Doanh nghiệp chấm điểm:
Bộ Xây dựng kém nhất

Phóng viên VnMedia đã có cuộc trao đổi với luật sư Trần Hữu Huỳnh - Trưởng ban pháp chế Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam về vấn đề này.

Thưa ông, qua khảo sát chỉ số đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các Bộ thì ông thấy nổi bật lên vấn đề gì?

Trong đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật có 4 chỉ tiêu. Chỉ tiêu về hoạt động xây dựng pháp luật có tiến bộ hơn trước đây đó là mức độ công khai, thường xuyên xin ý kiến. Tuy nhiên, có một mặt chưa tốt đó là mức độ cầu thị của các Bộ khi tiếp nhận ý kiến của các hiệp hội, doanh nghiệp còn thấp.

Ngoài ra, còn 4 chỉ tiêu phụ khác của hoạt động xây dựng pháp luật thì chỉ có chỉ tiêu minh bạch tốt còn chỉ tiêu tính ổn định thấp. Điều này thể hiện trong quá trình làm dự thảo văn bản pháp luật, việc phân tích về chính sách để cơ quan quản lý quyết định xem có cần thiết ban hành văn bản pháp luật và nếu như ban hành phải đảm bảo được tính tương đối là các Bộ làm chưa tốt.

Điều này phản ánh một thực tế, chúng ta thảo luận chủ yếu câu chữ, phần phản hồi chính sách là rất yếu. Vì vậy phần tham gia của doanh nghiệp - đối tượng chính chịu ảnh hưởng điều chỉnh chính sách này bị hạn chế.

Vậy thưa ông tính không thống nhất và không ổn định trong các văn bản pháp luật đang gây khó khăn gì cho các hiệp hội và doanh nghiệp?

Tất nhiên, nếu văn bản không thống nhất rất dễ dẫn đến rủi ro không chỉ riêng doanh nghiệp và cả các cơ quan quản lý Thậm chí cả toà án là đơn vị áp dụng pháp luật. Rõ ràng, cùng một mối quan hệ nhưng mỗi người tiếp nhận một nguồn luật khác nhau và như vậy các bên cũng khó áp dụng thống nhất và rủi ro là rất lớn

Thứ hai, nếu như tính ổn định không tốt khiến cho doanh nghiệp khó đưa ra được quyết định đầu tư bởi họ không lường trước được rủi ro chính sách.

Thưa ông, ông có nhận xét gì trong chỉ tiêu thi hành pháp luật ?

Trong chỉ tiêu hoạt động thi hành pháp luật thì điểm mạnh là ở một số hoạt động thi hành pháp luật tốt. Điều đó cho thấy rằng những cố gắng của các bộ các ngành hướng đến lắng nghe ý kiến hiệp hội, doanh nghiệp để từ đó thảo luận tìm cách vượt qua khó khăn. Nhưng một điều đáng buồn là chỉ tiêu tiếp cận thông tin pháp luật chưa tốt. Rõ ràng ở đây đang có hạn chế nhất định, về mặt pháp luật hiện nay chưa có hướng tiếp cận.

Khi xem xét kết quả bảng thì thấy một số bộ như Xây dựng, Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Y tế... các chỉ tiêu đánh giá rất thấp. Vậy ông đánh giá sao về vấn đề này?

Đây là kết quả cảm nhận của 124 doanh nghiệp đại diện cho hơn 770.000 doanh nghiệp hội viên. Vì vậy, chúng tôi tôn trọng cảm nhận của họ. Nếu nhìn từ góc độ người nghiên cứu, có mấy điểm đang được đặt ra, có thể các vấn đề đó rất phức tạp, việc thay đổi chính sách là khó khăn đòi hỏi phải có quyết tâm rất lớn. Hoặc cũng có thể, các bộ đã sửa đổi được rồi nhưng thông điệp đưa ra là chưa tốt.

Ông đánh giá sao về thái độ của các Bộ ban ngành khi xếp hạng của họ thấp như vậy?

Đây là lần đầu tiên cảm nhận doanh nghiệp về các cơ quan Bộ ngành được lượng hoá bằng các chỉ tiêu đánh giá. Do vậy, theo tôi các Bộ nên xem xét đánh giá lại xem tìm ra điểm bị “ách tắc” ở đâu để tìm hướng giải quyết.

Trong thời gian tới, các Bộ cần phải nỗ lực rất nhiều kể cả các Bộ được xếp thứ hạng cao để làm sao cải thiện môi trường kinh doanh lành mạnh hơn nữa. Đây cũng sẽ là thử thách đường dài đối với các Bộ.

Anh Đào

Nguồn: https://doctin.vn

 

 

,

doanh nghiep

,

bo tai

,

dau tu

,

tuy nhien

,

vnmedia

,

bo y te

,

tham chi

,

ngoai ra

,

bo tai nguyen

,

bo xay dung

,

bo xay

,

do vay

 

 
Minh bạch điều hành, tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng

Minh bạch điều hành, tự do kinh doanh, cạnh tranh bình đẳng 2:3' 5/8/2011

LS. Trần Hữu Huỳnh. Ảnh: Anh Tuấn.

Theo tôi, 10 kiến nghị của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội (khóa XII) và ba đề xuất về nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ mới do Thủ tướng nêu là khá toàn diện, có trọng điểm. Tuy nhiên, để thực hiện được, xin kiến nghị Chính phủ mới:

Xác định đúng vai trò đích thực của Nhà nước và tôn trọng tối đa quy luật của thị trường. Điều này sẽ đem lại sự ổn định vĩ mô, sự can thiệp đúng mục tiêu và có hiệu quả, bảo đảm an sinh xã hội, năng lực cạnh tranh trên cả ba cấp độ và là cơ sở để phát triển quốc gia bền vững.

Chuyển một nhà nước nặng về “điều hành kinh tế” sang một nhà nước “kiến tạo phát triển” đòi hỏi một chính phủ phải trong sạch, vững mạnh, bản lĩnh và có tính kỹ trị cao. Phát huy cao nhất quyền tự do kinh doanh của người dân, kiên quyết loại trừ mọi rào cản về quan điểm, thể chế, thủ tục, bộ máy cản trở quyền này.

Cần động viên triệt để “sức của” và nhất là “sức người” (cải cách toàn diện giáo dục, đào tạo để có nguồn nhân lực cạnh tranh cao), phát huy “sức mạnh cứng” kết hợp với “sức mạnh mềm” (văn hóa, truyền thống, dân chủ, minh bạch …), bảo đảm một môi trường kinh doanh an toàn (bảo vệ quyền sở hữu tài sản, quyền hợp đồng, quyền được đối xử công bằng trong hành chính và tư pháp), mở rộng tối đa không gian tự do kinh doanh cả trong và ngoài nước.

Bảo đảm một môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng, tăng trưởng thông qua cạnh tranh, bãi bỏ mọi sự phân biệt đối xử dựa trên thành phần kinh tế, tách quản lý kinh doanh ra khỏi quản lý nhà nước, tái cấu trúc lại doanh nghiệp nhà nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo tiêu chuẩn mới, hỗ trợ hợp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và cho khu vực nông nghiệp, nông thôn.

Để tạo ra sự minh bạch trong quá trình xây dựng và thi hành chính sách, pháp luật, cần có một quy trình chuẩn để bảo đảm tính công khai cao, tính phản biện rộng, tính giải trình dân chủ sâu, tính chịu trách nhiệm (kể cả trách nhiệm chính trị) nghiêm ngặt. Quy trình đó cần phải kết hợp hài hòa trên - dưới, trong - ngoài để hạn chế các rủi ro do duy ý chí, chủ quan, lợi ích nhóm, tầm nhìn hẹp, lãng phí, tham nhũng...

Chính sách, pháp luật phải được thi hành với kỷ cương, kỷ luật nghiêm minh, chi phí thấp, độ thân thiện cao, chịu sự đánh giá khách quan của xã hội và thị trường. Thường xuyên nâng cao tính chính danh của Chính phủ thông qua các cơ chế giải trình, miễn nhiệm và do đó mà xã hội tăng thêm niềm tin, hút thêm đầu tư, nâng hiệu quả cạnh tranh, giảm các phí tổn xã hội.

LS. Trần Hữu Huỳnh (Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam)
Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online

 

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 5 của 11
 

ls le trung son cr

Khách hàng

TƯ VẤN PHÁP LUẬT


DỊCH VỤ CUNG CẤP

trong nuoc

nn