Tin tức
Thiếu “thuốc chữa” doanh nghiệp chây ỳ thi hành án

Trong nhiều trường hợp, cơ quan thi hành án phải “bó tay” không thể thi hành án vì doanh nghiệp không có tài sản mặc dù vẫn hoạt động bình thường.

Luật Thi hành án (THA) hiện nay không quy định cho cơ quan THA được áp dụng những biện pháp chế tài mạnh đối với những doanh nghiệp, tổ chức đang hoạt động nhưng chây ỳ THA. Điều này dẫn đến một thực trạng là doanh nghiệp, tổ chức phải THA cứ nhởn nhơ hoạt động bình thường, lơ nghĩa vụ THA của mình.

Nỗi lo đòi quyền lợi

Tháng 7-2012, Công ty N. khởi kiện Công ty P. đòi hơn 100 triệu đồng tiền mua vật tư thiết bị thi công công trình. Trong buổi hòa giải, Công ty P. chấp nhận trả nợ như đơn khởi kiện nên TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, Công ty N. làm đơn yêu cầu THA. Mặc dù Công ty P. vẫn hoạt động bình thường nhưng cơ quan THA không thể thi hành theo những gì mà công ty N. đã yêu cầu vì tài khoản của Công ty P. không có tiền ngoài ít bộ bàn ghế còn lại ở công ty…

Tương tự, tháng 6-2010, bà Đ. ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Văn phòng công chứng D. trên địa bàn quận Thủ Đức (TP.HCM). Trong quá trình làm việc, hai bên nảy sinh mâu thuẫn nên ngày 15-3-2011, văn phòng công chứng cho bà Đ. nghỉ việc.

Tháng 9-2011, TAND quận Thủ Đức xử sơ thẩm, tuyên hủy quyết định của văn phòng công chứng; buộc phía này trả gần 50 triệu đồng cho phía bà Đ. Sau khi nhận đơn yêu cầu THA của bà Đ., chấp hành viên đã trả lại đơn yêu cầu vì văn phòng này không có tài sản, không có tài khoản mở tại ngân hàng (dù văn phòng vẫn hoạt động bình thường).

Luật chưa đầy đủ

Chấp hành viên Trần Quốc Khánh, Chi cục THA dân sự quận 8 (TP.HCM), phân tích Luật THA hiện nay vẫn thiếu chế tài đối với những trường hợp nêu trên. Nếu xác định doanh nghiệp đó vẫn còn hoạt động thì chấp hành viên sẽ làm việc với đối tác của công ty phải THA để xem giá trị của hợp đồng hợp tác làm ăn, thanh toán bằng cách nào nhằm lần tìm tài khoản của công ty này. Tuy nhiên, việc này cũng không phải dễ vì chấp hành viên khó mà biết được công ty đó đang làm ăn với đối tác nào. Hoặc như Văn phòng công chứng D. nói trên, họ không thực hiện chuyển khoản mà thu phí trực tiếp bằng tiền thì chấp hành viên cũng không biết đường nào để THA.

Ông Lê Minh Tánh, Chi cục trưởng Chi cục THA dân sự quận 9 (TP.HCM) - nơi trực tiếp thi hành bản án của bà Đ., cho biết cơ quan THA sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế THA trong trường hợp tổ chức, doanh nghiệp đó có tài sản mà không chịu tự nguyện THA. Ngược lại, mặc dù doanh nghiệp, tổ chức đó vẫn hoạt động nhưng khi xác minh mà không phát hiện được tiền, tài sản có giá trị thì cơ quan THA buộc phải trả lại đơn yêu cầu THA. Khi phát hiện tổ chức, doanh nghiệp đó có tài sản thì người được THA phải làm đơn yêu cầu THA lại. Trường hợp cụ thể của bà Đ. thì cơ quan THA quận 9 đã xác minh nhưng văn phòng công chứng không có tài sản nên đành chịu...

Cần nêu tên doanh nghiệp chây ỳ

Tổ chức doanh nghiệp chây ỳ THA hiện nay rất nhiều. Tuy nhiên, vì thiếu quy định để chế tài nên doanh nghiệp đó vẫn hoạt động bình thường và có thể tiếp tục thực hiện các giao dịch rồi tiếp tục nợ nần. Vì vậy, để những công ty khác có thông tin về doanh nghiệp mình sắp hoặc đang giao dịch thì cơ quan THA cần có trang thông tin điện tử ghi tên, địa chỉ của những doanh nghiệp, tổ chức chưa chịu THA. Khi nào doanh nghiệp đó THA xong thì mới gỡ bỏ tên trong danh sách. Tôi cho rằng việc này sẽ có tác dụng rất lớn nếu được triển khai một cách rộng rãi cho mọi người biết.

Một chấp hành viên Cục THA dân sự TP.HCM

Trói tay cơ quan THA

Hiện nay cơ quan THA căn cứ trên kết quả xác minh điều kiện THA để thi hành theo bản án, quyết định của tòa. Tuy nhiên, khi xác minh nếu thấy doanh nghiệp, tổ chức không có tài sản, THA cũng đành chịu thua mặc dù biết rõ doanh nghiệp đó vẫn còn hoạt động do Luật THA không cho phép cơ quan THA được quyền đề nghị đình chỉ kinh doanh. Đây cũng là một trong những kẽ hở để những doanh nghiệp, tổ chức né THA.

Ông LÊ HỮU HÒA, Chi cục trưởng Chi cục THA dân sự quận 5, TP.HCM

Thắt chặt công tác hậu kiểm

Doanh nghiệp chây ỳ trong THA hiện nay rất nhiều với nhiều lý do khác nhau như doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, không có doanh thu, bỏ trốn khởi địa chỉ đăng ký kinh doanh… Vì vậy, cơ quan thuế, cơ quan quản lý về đăng ký kinh doanh cần kiểm soát chặt đối với nguồn thu của doanh nghiệp, tài khoản của doanh nghiệp đó. Kiên quyết xử lý các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, nợ thuế. Bên cạnh đó, những thông tin hoạt động của doanh nghiệp cũng cần được cập nhật liên tục. Có làm như vậy thì khi cơ quan THA xác minh tài sản mới được thuận tiện. Cho đến nay có rất nhiều trường hợp cơ quan THA xác minh địa chỉ kinh doanh của công ty đó thì chẳng thấy đâu nhưng Sở Kế hoạch và Đầu tư vẫn cho rằng doanh nghiệp đó còn hoạt động. Để THA đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cũng như tạo niềm tin của người dân vào công lý thì hơn hết cần thắt chặt công tác hậu kiểm hoạt động của doanh nghiệp.

Ông PHẠM NGỌC VŨ, Phó Chi cục trưởng Chi cục THA dân sự quận Bình Thạnh, TP.HCM

 

NGUỒN TẠP CHÍ PHÁP LUẬT

 

 

 

 

 

 
Muốn từ con: Không dễ!
Có nhiều trường hợp bất khả kháng cha mẹ phải từ bỏ quyền nuôi con, tuy nhiên hiện luật không quy định điều này nên tòa không thể thụ lý giải quyết.

Theo hồ sơ, do công việc làm ăn, anh T. thường xuyên qua Đức công tác. Tại đây, anh T. phát sinh tình cảm với chị H. và đến năm 2010, chị H. sinh một bé trai.

Tòa không giải quyết

Ít lâu sau, anh T. về nước, còn chị H. ở Đức một mình nuôi con. Nhiều lần trao đổi qua lại, anh H. đồng ý từ bỏ quyền nuôi con. Chị H. cũng không dây dưa thêm. Tuy nhiên, một mình nơi xứ người, chị không đủ sức nuôi con nên làm thủ tục cho con nhập tịch và xin trợ cấp của chính phủ Đức để trang trải cuộc sống hai mẹ con. Ngoài việc nộp các giấy tờ chứng minh hoàn cảnh thực tế, chính phủ Đức yêu cầu chị phải có quyết định của tòa án tại Việt Nam về việc anh T. từ chối nuôi con.

Trước yêu cầu này, chị về nước liên hệ với tòa án nơi anh T. sinh sống để làm thủ tục. Tuy nhiên, tòa đã từ chối vì không thuộc thẩm quyền giải quyết và pháp luật Việt Nam cũng không có quy định về vấn đề này.

Hoàn cảnh trên của chị H. hiện không phải là trường hợp cá biệt bởi thực trạng hiện nay cũng có rất nhiều trường hợp người làm cha, làm mẹ từ con từ khi mới sinh, đồng ý cho bên còn lại nuôi con. Tuy nhiên, tòa đã từ chối giải quyết như trường hợp của chị H. nêu trên.

Làm sao để bảo vệ quyền lợi trẻ?

Trao đổi về vấn đề này, luật sư Trần Hải Đức (Đoàn Luật sư TP.HCM) cho biết Luật Hôn nhân và Gia đình hiện nay không có chế định từ con. Người làm cha, làm mẹ không thể từ chối nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái vì thế yêu cầu của chị H. tòa không thể thụ lý giải quyết.

Tuy nhiên, luật sư Đức cho biết thêm ở đây có sự xung đột pháp lý giữa nước ta với Đức. Luật nước Đức lại cho phép cha mẹ có thể từ con, từ chối nghĩa vụ nuôi con.

Luật gia Đặng Đình Thịnh (Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Hội Luật gia Việt Nam) phân tích đây là vấn đề nan giải do có sự xung đột pháp lý giữa hai nước. Vì thế để gỡ vướng thì một trong hai hệ thống pháp luật phải có sự điều chỉnh.

Theo luật gia Thịnh, do đứa trẻ đang được nuôi dưỡng tại nước ngoài và cần chính sách hỗ trợ của nhà nước này nên chăng cần sự điều chỉnh pháp luật nước đó. Chị H. có thể liên lạc với nước sở tại hỏi lại thủ tục trong trường hợp không có quyết định của tòa án Việt Nam như yêu cầu thì có thể có cách khác không. Chẳng hạn như giấy xác nhận chị một mình nuôi con hoàn cảnh khó khăn... Trong trường hợp này, chị H. nên yêu cầu sự hỗ trợ của lãnh sự quán nước ta tại Đức. Còn việc điều chỉnh pháp luật nước ta cho vấn đề này e khó thực hiện. Bởi lẽ nếu sửa luật là cùng lúc phải sửa Luật Hôn nhân và Gia đình, luật dân sự và luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về lâu dài nên chăng có việc điều chỉnh luật trong một phạm vi nhất định để giải quyết cho những trường hợp trẻ đang sinh sống ngoài lãnh thổ như con chị H.

Nên khởi kiện để linh hoạt xử lý

Một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM bàn thêm, tập quán và đạo lý nước ta cũng như pháp luật không cho phép việc từ chối nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Trong trường hợp chị H. có thể linh hoạt bằng cách khởi kiện ra tòa yêu cầu anh T. cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào lý do nào đó như anh T. đang mất khả năng lao động không có thể cấp dưỡng nuôi con tại thời điểm hiện tại.... tòa bác yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chứ tòa không thể ra quyết định khước từ quyền nuôi dưỡng con của người cha được.

Nên đẩy mạnh ký hiệp định tương trợ tư pháp

Hiện nước ta và Đức chưa có hiệp định tương trợ tư pháp nên linh động giải quyết những trường hợp như trên là bất khả kháng. Chúng ta nên đẩy mạnh việc ký hiệp định tương trợ tư pháp với nhiều nước nhằm bảo đảm quyền lợi cho công dân nước ta sinh sống tại nước ngoài.

Luật gia ĐẶNG ĐÌNH THỊNH, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Hội Luật gia Việt Nam

Cần điều chỉnh luật để bảo vệ trẻ nhỏ

Trong trường hợp này, chiếu theo Luật Hôn nhân và Gia đình thì VKS không thể kiến nghị tòa ra quyết định để đảm bảo quyền lợi cho trẻ nhỏ bởi mẹ bé là người đủ năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, theo tôi về lâu dài cần chỉnh sửa luật sao cho bảo vệ quyền lợi của công dân nhỏ của chúng ta ở nước ngoài. Có thể là điều chỉnh Luật Hôn nhân và Gia đình hoặc Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao ra nghị quyết hướng dẫn giải quyết các trường hợp thực tế này.

Một kiểm sát viên cao cấp Viện Phúc thẩm III, VKSND Tối cao

NGUỒN TẠP CHÍ PHÁP LUẬT

 

 

 
Tòa chậm chuyển án, viện kêu trời...

Tòa chậm chuyển án, viện kêu trời...

Dù đã có quy định về thời gian chuyển bản án sơ thẩm cho VKS xem xét nhưng tòa vẫn vi phạm, làm ảnh hưởng đến việc kháng nghị của cơ quan này...

Mới đây, VKSND tỉnh H. đã phản ứng khi tòa án cùng cấp đã giao bản án một vụ tranh chấp thừa kế giữa ông L. và bà V. cho mình trễ thời hạn quy định đến 15 ngày. Theo VKS, việc chậm trễ giao bản án đã làm ảnh hưởng đến chuyện kháng nghị toàn diện vụ án của phía viện.

Nhiều vi phạm

Trường hợp tòa chậm giao bản án như trên không thiếu. Trong sáu tháng đầu năm 2012, VKSND tỉnh Nghệ An cho biết đã phát hiện thấy nhiều tòa án hai cấp vi phạm. Những tòa có vi phạm quy định mà VKSND tỉnh kể ra là TAND huyện Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, Diễn Châu, Tương Dương, Quỳ Hợp, TAND TP Vinh, thị xã Cửa Lò.

Tương tự vừa qua, VKSND tỉnh Hà Nam cũng có kiến nghị khắc phục vi phạm trong việc tòa chậm chuyển các bản án dân sự, kinh doanh thương mại của TAND huyện Thanh Liêm.

Theo VKSND các tỉnh, những vi phạm trên chủ yếu do thư ký, thẩm phán được phân công giải quyết chưa làm hết trách nhiệm, chưa nghiêm túc thực hiện các quy định của pháp luật. Việc kiểm tra đôn đốc của lãnh đạo tòa án để phát hiện vi phạm trong một số trường hợp cụ thể chưa được thường xuyên...

Phải làm đúng luật

Theo các chuyên gia pháp lý, Điều 252 BLTTDS quy định thời hạn kháng nghị bản án sơ thẩm của VKSND cùng cấp là 15 ngày, của VKSND cấp trên trực tiếp là 30 ngày kể từ ngày tuyên án. Việc tòa án gửi chậm so với thời hạn quy định làm ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác; làm hạn chế đến quyền kiến nghị, kháng nghị của VKS. Trường hợp này, VKS sẽ không bảo vệ kịp thời quyền lợi hợp pháp của tổ chức và cá nhân khi tham gia tố tụng dân sự...

Tuy nhiên, về phía tòa, nơi đây cho biết họ cũng gặp nhiều khó khăn. Một thẩm phán Tòa Dân sự TAND TP.HCM bảo hiện nay, với lượng án ngày càng gia tăng, để đảm bảo việc giao bản án đúng hạn là khó thực hiện. Thế nên phía VKS cần thông cảm cho phía tòa.

Về việc này, luật gia Đặng Đình Thịnh (Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia Việt Nam) cho rằng đúng là hiện nay tòa đang gặp một số khó khăn. Tuy nhiên, người dân chỉ biết căn cứ theo luật để làm chứ mấy ai nghe tòa giải thích lý do này lý do kia. Vì vậy, các tòa cần phải thực hiện nghiêm túc theo quy định pháp luật, cũng là tạo điều kiện cho VKS thực hiện tốt công tác của họ…

 

Cần có biện pháp chế tài mạnh

Luật đã quy định thế nào thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện nghiêm chỉnh để tránh những tiêu cực nhất định. Theo tôi, trong thực tiễn, khi xác định trường hợp nào chậm trễ trong việc chuyển bản án thì cần phải xác định lỗi và có biện pháp xử lý cương quyết. Do hiện nay chưa có một hướng dẫn chung nào trong ngành tòa về việc xử lý những trường hợp này nên mới để tình trạng xảy ra chuyển bản án quá hạn cả tháng trời… Vì vậy, TAND Tối cao cần sớm đưa ra hướng dẫn cũng như biện pháp chế tài mạnh nếu cán bộ vi phạm.

Luật sư NGUYỄN HỮU THẾ TRẠCH, Đoàn Luật sư TP.HCM

Nên nới rộng thời gian gửi bản án

Trong trường hợp, tòa không thực hiện đúng thời hạn quy định hoặc gửi bản án bằng đường bưu điện thì VKS nhận được bản án thường rất trễ. Thực tế tình trạng vi phạm thời hạn 10 ngày của tòa là khá phổ biến.

Ở giai đoạn sơ thẩm, VKS chỉ tham gia phần tố tụng nhưng kháng nghị thì không giới hạn ở tố tụng mà có cả phần nội dung. Thời hạn 15 ngày để VKS cùng cấp phát hiện ra sai phạm về tố tụng và về nội dung là quá ngắn. Theo tôi, cần phải kéo dài thêm. Song song đó, cũng nên nới rộng thời gian tòa chuyển giao bản án, quyết định cho VKS xem xét kháng nghị. Có thể nâng thời gian này lên 15 ngày, 17 ngày... theo hướng tỉ lệ thuận với thời gian kháng nghị...

Một kiểm sát viên VKSND TP.HCM

 

NGUỒN TẠP CHÍ PHÁP LUẬT

 
Bỏ trách nhiệm chứng minh tội phạm của tòa?
Nhiều bất cập trong thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã được chỉ ra trong hội nghị do VKSND Tối cao phối hợp với VKSND TP.HCM tổ chức ngày 14-8. Song song đó, nhiều kiến nghị sửa đổi, bổ sung luật cũng được các đại biểu nêu lên…

Ở giai đoạn điều tra, một vấn đề được nhiều đại biểu chỉ ra là quyền hạn của điều tra viên trong hoạt động tố tụng còn bị hạn chế so với quyền hạn của lãnh đạo cơ quan điều tra.

Phân định quyền hạn chưa hợp lý

Cụ thể, các điều 34, 36 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định khi tiến hành tố tụng các vụ án cụ thể, lãnh đạo cơ quan điều tra ra các quyết định tố tụng, còn điều tra viên trực tiếp thi hành các quyết định tố tụng đó.

Như vậy về nguyên tắc, lãnh đạo cơ quan điều tra có quyền hạn tuyệt đối. Ngược lại, dù là người trực tiếp thực hiện các hoạt động tố tụng nhưng điều tra viên lại bị động, bị phụ thuộc vào tính đúng đắn, kịp thời của các quyết định do cấp trên ban hành. Cơ chế tố tụng này một mặt tạo nên rào cản ảnh hưởng đến chất lượng, tính kịp thời của hoạt động tố tụng, mặt khác lại không tạo ra cơ sở rõ ràng về trách nhiệm của lãnh đạo cơ quan điều tra theo nguyên tắc “quyền hạn đi đôi với trách nhiệm”.

“Lỗ hổng” trong kiểm sát tin báo tội phạm

Theo Điều 104 BLTTHS, ngoài cơ quan điều tra thì hải quan, kiểm lâm, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển cùng một số cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân cũng có quyền khởi tố vụ án hình sự.

Sắp tới đây, việc chứng minh tội phạm thông qua xét hỏi là trách nhiệm chính của kiểm sát viên. Ảnh: HTD

Như vậy, các cơ quan trên cũng có nhiệm vụ tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm. Tuy nhiên, BLTTHS lại không quy định VKS kiểm sát hoạt động này. Theo bà Hồ Thị Phấn (Phó Viện trưởng VKSND TP.HCM), đây là thiếu sót có thể dẫn đến nguy cơ tố giác, tin báo về tội phạm không được xử lý đầy đủ, kịp thời nên bỏ lọt tội phạm.

Để khắc phục, bà Phấn kiến nghị điều chỉnh khoản 4 Điều 103 BLTTHS như sau: “VKS có trách nhiệm kiểm sát việc tiếp nhận, thụ lý và giải quyết của cơ quan điều tra, hải quan, kiểm lâm, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển và các cơ quan khác của công an nhân dân, quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố”.

Trong giai đoạn khởi tố, bà Phấn cũng kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 126 BLTTHS theo hướng quy định thời hạn mà cơ quan điều tra phải thực hiện yêu cầu khởi tố bị can của VKS. Nếu cơ quan điều tra không thống nhất khởi tố thì phải có văn bản trả lời, nêu rõ lý do. Nếu VKS nhận thấy việc khởi tố là có cơ sở thì VKS trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can.

Đồng tình, một kiểm sát viên VKSND huyện Bình Chánh (TP.HCM) nói quy định như vậy vừa tăng cường tính chủ động của VKS, vừa đảm bảo tính kịp thời của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Bỏ quyền khởi tố của tòa

Ông Vũ Phi Long (Phó Chánh tòa Hình sự TAND TP.HCM) cho rằng trong BLTTHS có nhiều quy định nêu rõ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có tòa án. Các quy định này mâu thuẫn với chức năng xét xử là tại phiên tòa, HĐXX chỉ hỏi để thẩm tra các chứng cứ, tài liệu, lắng nghe các quan điểm buộc - gỡ tội để làm cơ sở cho nghị án.

Cũng theo ông Long, quy định về thẩm quyền khởi tố vụ án của HĐXX tại phiên tòa (Điều 104 BLTTHS) cũng không phù hợp với chức năng của tòa là chỉ xét xử trên cơ sở quyết định truy tố của VKS. Trong thực tiễn, hầu như chưa có trường hợp nào HĐXX khởi tố vụ án tại phiên tòa, tất cả đều chỉ trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc kiến nghị VKS khởi tố.

Về trình tự xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm (Điều 207 BLTTHS), ông Long đề nghị để đảm bảo sự vô tư, khách quan, không định kiến trước thì HĐXX chỉ nên hỏi một cách tổng quát những vấn đề của vụ án theo nội dung trong cáo trạng. Còn lại, đại diện VKS sẽ chịu trách nhiệm xét hỏi chính, đấu tranh để làm rõ vụ án. “Về lâu dài, chúng tôi ủng hộ quan điểm chứng minh tội phạm thông qua xét hỏi là trách nhiệm chính của kiểm sát viên. HĐXX chỉ có trách nhiệm theo dõi, yêu cầu các bên phải tham gia xét hỏi những tình tiết chưa được đề cập” - ông Long nói.

Ủng hộ quan điểm này, kiểm sát viên Trần Minh Sơn (Phó phòng Kiểm sát thi hành án tạm giam - tạm giữ VKSND TP.HCM) nói thêm: Tại các phiên tòa, đại diện VKS có trách nhiệm công bố cáo trạng và bảo vệ nó nhưng lại là người tham gia thẩm vấn cuối cùng. Nên thay đổi trình tự xét hỏi theo hướng kiểm sát viên hỏi trước, tòa chỉ theo dõi và nhận định. Điều này cũng phù hợp với xu hướng chung của thế giới.

Kiến nghị về sửa, hủy bản án sơ thẩm

Về việc sửa bản án sơ thẩm, nhiều đại biểu kiến nghị phải quy định chặt chẽ một điều luật riêng, cụ thể về việc chuyển từ hình phạt tù sang tù treo nhằm tránh bị lạm dụng ở cấp phúc thẩm.

Về việc hủy bản án sơ thẩm, nếu trong vụ án có một phần điều tra không đầy đủ, thay vì hủy toàn bộ bản án như hiện nay thì nên bổ sung điều khoản là chỉ hủy một phần của bản án có liên quan sẽ phù hợp hơn.

Ngoài ra, với những vụ mà cấp sơ thẩm xét xử sai điều khoản nhưng không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không thể hủy án vì gây bất lợi cho bị cáo thì cần có điều luật quy định hướng xử lý như thế nào...

Tăng thẩm phán, bớt hội thẩm

Theo Điều 185 BLTTHS, nếu HĐXX sơ thẩm có ba người thì gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân, nếu hội đồng có năm người thì gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân.

Một thực tế hiển nhiên là trình độ chuyên môn lẫn kinh nghiệm của các hội thẩm không thể bằng thẩm phán nhưng số lượng hội thẩm trong hội đồng lại đông hơn. Điều này ảnh hưởng đến việc biểu quyết án (theo đa số), làm phát sinh nhiều bất cập. Để đảm bảo chất lượng xét xử, luật cần sửa đổi là số lượng thẩm phán đông hơn theo tỉ lệ hai thẩm phán, một hội thẩm hoặc ba thẩm phán, hai hội thẩm.

Ông NGUYỄN HỒNG SƠN, Trưởng phòng Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử VKSND TP.HCM

NGUỒN TẠP CHÍ PHÁP LUẬT

 
Luật sư ủy quyền cho người khác ra tòa?
Nhiều chuyên gia khẳng định việc ủy quyền là tùy tiện bởi pháp luật không có điều khoản nào cho phép cả.

Tại TAND quận Hải Châu (TP Đà Nẵng) vừa xảy ra một chuyện khá hi hữu trong tố tụng: Một luật sư sau khi được tòa cấp giấy chứng nhận bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự đã… ủy quyền cho hai người khác tham gia phiên xử để làm thay công việc của mình.

Ủy quyền vì bận việc, tòa cũng chấp thuận

Trước đó, luật sư HNL (Đoàn Luật sư TP Đà Nẵng) nhận lời bảo vệ bà H., bị đơn trong một vụ kiện đòi nợ 400 triệu đồng. Sau khi làm thủ tục, luật sư L. đã được TAND quận Hải Châu cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, vì bận đi Mỹ nên luật sư L. đã làm giấy ủy quyền cho luật gia G. (Hội Luật gia TP Đà Nẵng) và luật sư M. (Đoàn Luật sư TP Đà Nẵng) thay ông tham gia phiên tòa để bảo vệ bà H.

Trong phiên sơ thẩm, HĐXX đã công bố “đơn ủy quyền” trên và hỏi bà H. rằng có chấp nhận hai vị luật gia, luật sư mới theo ủy quyền của luật sư L. hay không. Ban đầu, bà H. ngơ ngác không hiểu nên không đồng ý. Tòa giải thích: “Nếu bị đơn đồng ý đơn ủy quyền này thì tòa sẽ chấp nhận hai vị luật gia và luật sư này bảo vệ quyền lợi cho bị đơn, còn nếu bị đơn không đồng ý thì thôi”. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, tham khảo ý kiến của người thân, cuối cùng bà H. cũng đã đồng ý để luật gia G. và luật sư M. bảo vệ mình.

“Luật sư theo ủy quyền”: Luật chưa cho phép

Xung quanh vụ việc trên làm phát sinh vấn đề pháp lý: Sau khi đã được tòa cấp giấy chứng nhận bảo vệ quyền lợi, một luật sư có được ủy quyền cho người khác thay mình tham gia phiên tòa dân sự hay không?

Chúng tôi đã trao đổi với nhiều chuyên gia. Cá biệt cũng có ý kiến nói tòa có thể chấp nhận nếu thân chủ của luật sư đồng ý. Tuy nhiên, phần đông thì vẫn cho rằng việc ủy quyền là tùy tiện bởi Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Luật sư cùng các văn bản hướng dẫn đều không có điều khoản nào cho phép cả. Hơn nữa, với vai trò, vị trí, tư cách tham gia phiên tòa của luật sư thì việc ủy quyền này lại càng không ổn.

Luật sư Hoàng Cao Sang (Đoàn Luật sư TP.HCM) nhận xét: “Tôi chưa từng thấy quy định, khái niệm nào về việc luật sư “ủy quyền bảo vệ khách hàng tại phiên tòa” cả. Theo tôi thì không thể chấp nhận chuyện này. Bởi lẽ việc luật sư bảo vệ quyền lợi cho khách hàng là thỏa thuận giữa chính luật sư với khách hàng. Khách hàng yêu cầu đích danh luật sư thì luật sư không có quyền định đoạt là ủy quyền cho ai làm thay công việc của mình cả”.

Theo luật sư Sang, luật sư muốn tham gia phiên tòa dân sự để bảo vệ khách hàng còn phải được tòa cấp giấy chứng nhận. Theo luật, tòa phải xem xét có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền lợi hay không mới cấp giấy. Giấy chứng nhận được cấp đích danh cho một luật sư thì việc luật sư này ủy quyền cho người khác tham gia phiên xử vô hình trung đã gạt bỏ vai trò xem xét của tòa. Chưa kể, với trường hợp người bảo vệ quyền lợi là luật gia thì thủ tục lại càng chặt chẽ, càng đòi hỏi nhiều hơn về điều kiện.

“Chừng nào pháp luật cho giới luật sư được thoải mái tham gia tố tụng mà không cần cấp giấy chứng nhận thì lúc đó, việc ủy quyền này mới có thể đặt ra với điều kiện là đương sự đồng ý” - luật sư Sang kết luận.

Một thẩm phán Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM bổ sung: Trong vụ án trên, việc tòa “chấp thuận miệng” chuyện “ủy quyền bảo vệ khách hàng” của các luật sư, luật gia ngay tại phiên xử là không đúng, dù đương sự đã đồng ý. Ở đây, tòa phải hoãn xử để xem xét cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho luật gia G. và luật sư M., sau đó mở lại phiên xử thì mới đúng về thủ tục tố tụng.

Một số quy định liên quan

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được tòa án chấp nhận để tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

(Trích Điều 63 Bộ luật Tố tụng dân sự)

Tùy từng trường hợp cụ thể mà người được đương sự nhờ làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải xuất trình cho tòa án các giấy tờ, tài liệu sau đây:

a) Đối với luật sư thì phải xuất trình cho tòa án giấy giới thiệu của văn phòng luật sư nơi họ là thành viên hoặc có hợp đồng làm việc cử họ tham gia tố tụng tại tòa án và thẻ luật sư.

b) Đối với người khác thì phải xuất trình cho tòa án văn bản có nội dung thể hiện ý chí của đương sự nhờ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, văn bản của UBND xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc của cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc xác nhận họ không có tiền án, không đang bị khởi tố về hình sự, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục và quản chế hành chính, không phải là cán bộ, công chức trong các ngành tòa án, kiểm sát, công an; một trong các loại giấy tờ tùy thân (như CMND, hộ chiếu, sổ hộ khẩu…).

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đầy đủ giấy tờ, tài liệu, thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét giải quyết. Nếu họ có đủ điều kiện thì cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự để họ tham gia tố tụng…

(Trích Điểm 3 Nghị quyết số 01 ngày 31-5-2005 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao)

Luật không cho, không được làm

Về nguyên tắc, với tính chất đặc biệt của hoạt động tố tụng thì những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đều chỉ được làm những gì mà pháp luật tố tụng cho phép. Ở đây, nếu luật sư L. bận việc trong thời gian dự kiến có phiên xử thì có thể đề nghị tòa hoãn xử. Nếu không được thì có thể nhờ luật sư khác với điều kiện được đương sự đồng ý và vị luật sư khác này cũng phải được tòa cấp giấy chứng nhận chứ không thể đơn giản chỉ làm một văn bản ủy quyền giữa các luật sư với nhau.

Luật sư TRẦN NGỌC QUÝĐoàn Luật sư TP.HCM

Phải làm đúng thủ tục

Việc luật sư ủy quyền cho luật sư khác thay mình bảo vệ khách hàng là không đúng với thủ tục và tính chất pháp lý của hoạt động bảo vệ quyền lợi cho đương sự tại phiên tòa dân sự. Nếu vì lý do đã ký hợp đồng với khách hàng (đương sự trong vụ án) thì luật sư có thể giới thiệu cho đương sự luật sư khác thay thế. Trong trường hợp này, luật sư mới sẽ làm lại thủ tục từ đầu để tòa cấp giấy chứng nhận chứ không phải với vai trò là nhận ủy quyền của luật sư cũ.

Một kiểm sát viên VKSND TP.HCM

Bất ổn

Luật sư muốn được bảo vệ quyền lợi cho thân chủ phải đảm bảo hai yếu tố: Được đương sự đồng ý thuê, nhờ và được tòa cấp giấy chứng nhận khi thấy đủ tư cách bảo vệ quyền lợi. Hai yếu tố này chỉ đảm bảo cho chính luật sư đó, nếu ủy quyền thì người nhận ủy quyền lấy gì đảm bảo sẽ đáp ứng được chúng?

Luật sư NGUYỄN TẤN THANH, Đoàn Luật sư TP.HCM

NGUỒN TẠP CHÍ PHÁP LUẬT 

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 4 của 11
 

ls le trung son cr

Khách hàng

TƯ VẤN PHÁP LUẬT


DỊCH VỤ CUNG CẤP

trong nuoc

nn