Tin tức
Chế độ canh giữ, bảo vệ trong Luật Hồng Đức và những bài học kinh nghiệm lập pháp

Chế độ canh giữ, bảo vệ trong Luật Hồng Đức và những bài học kinh nghiệm lập pháp

 Thượng tá, TS. Trần Văn Luyện - Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội - Bộ Công an; Nguyễn Anh Tuấn - GV Khoa Luật, Học viện An ninh nhân dân - Bộ Công an

 

 

Trong các văn bản pháp luật của các triều đại phong kiến Việt Nam, Bộ luật Hồng Đức là một bộ luật điển hình, hoàn thiện nhất. Qua việc nghiên cứu chế độ canh giữ, bảo vệ (chương Vệ cấm) trong Bộ luật Hồng Đức, nhất là phân tích các quy định cụ thể, bài viết góp phần làm sáng tỏ “tinh thần pháp luật” của luật Việt cổ, cái hay, cái đặc sắc trong cách làm luật của cha ông ta, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc giải quyết các vấn đề pháp luật hôm nay.

 

1. Vài nét về lịch sử ra đời Luật Hồng Đức triều Lê

 

Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, bộ luật thành văn đầu tiên của người Việt được biết đến là bộ Hình thư ban hành năm Minh Đạo thứ nhất (1042) dưới triều vua Lý Thái Tông. Đến thời nhà Trần, Trần Thái Tông ban hành bộ Quốc triều hình luật, Trần Dụ Tông ban hành Hoàng triều đại điển Hình luật thư1. Triều nhà Lê cũng ban hành nhiều luật (bộ luật) quan trọng như: Quốc triều hình luật, Luật thư, Quốc triều luật lệnh, Quốc triều thư khế thể thức, Lê triều quan chế, Thiên Nam dư hạ tập, Hồng Đức thiện chính thư, Sĩ hoạn châm quy, Quốc triều chiếu lệnh thiện chính, Quốc triều điều luật, Cảnh Hưng điều luật2… trong đó, bộ Quốc triều hình luật (hay Lê triều hình luật, Luật Hồng Đức) là bộ luật có quy mô lớn và quan trọng nhất. Về sau, khi soạn thảo bộ Hoàng Việt luật lệ, nhà Nguyễn cũng tham khảo bộ luật này. Tên “Luật Hồng Đức” được nhắc đến trong Lời tựa của vua Gia Long mở đầu cho Hoàng Việt luật lệ của nhà Nguyễn3.

 

Có nhiều ý kiến khác nhau về lịch sử ra đời của Luật Hồng Đức. Có quan điểm cho rằng Luật này được ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông, bởi tên của luật gắn với niên hiệu thứ hai của vị vua này4. Tuy nhiên, quan điểm chung của giới khoa học Việt Nam hiện nay cho rằng “Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức) là kết quả của quá trình lập pháp liên tục của các triều vua hậu Lê, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Thái Tổ và đóng góp lớn lao của Thánh Tông - những vị vua anh minh vào bậc nhất của chế độ phong kiến Việt Nam”5. Theo các tài liệu chính sử, sau cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược (1418-1428), Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ), lấy niên hiệu Thuận Thiên, đặt quan chế, xây dựng bộ máy quan lại, ban hành pháp luật cai trị đất nước. Lê Thái Tổ cho rằng: “Từ xưa đến nay, trị nước phải có pháp luật, người mà không có pháp để trị thì loạn. Cho nên, bắt chước đời xưa đặt ra pháp luật để dạy các quan, dưới đến nhân dân cho biết thế nào là thiện, ác, điều thiện thì làm, điều ác thì lánh, chớ có phạm pháp”6. Từ Lê Thái Tổ đến Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Thánh Tông, các triều vua đã dày công xây dựng hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam ngày càng phong phú và hoàn thiện, thể hiện trong hàng loạt các luật (bộ luật) được ban hành và thi hành.

 

Luật Hồng Đức, ngoài phần quy định về “Đồ giải năm hạng để tang”, “Biểu đồ để tang chín bậc họ nội”, “Đồ hình cụ”, “Mục lục”, được chia thành sáu quyển với 722 điều luật điều chỉnh một phạm vi các quan hệ xã hội tương đối rộng, từ Vệ cấm (chế độ canh giữ, bảo vệ), Quân chính (tội phạm trong quân đội) cho đến Hộ hôn (quan hệ hôn nhân, gia đình), Điền sản (ruông đất), Đạo tặc (trộm cướp), Đấu tụng (đánh nhau, kiện cáo) cho đến Bội vong (bắt tội phạm chạy trốn) và Đoán ngục (xử án)… Như vậy, Luật Hồng Đức có phạm vi đối tượng điều chỉnh rộng, phương pháp điều chỉnh mang đậm truyền thống pháp luật phương Đông - điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua việc quy định tội phạm và xác định hình phạt cho các tội phạm đó.

 

Trong Luật Hồng Đức, Vệ cấm chương (chế độ canh giữ, bảo vệ) được xếp ở Quyển 1, ngay sau chương các quy định chung của luật (chương Danh lệ) và trước 11 chương khác. Thứ tự sắp đặt các chương trong một đạo luật ít nhiều phản ánh tầm quan trọng của các chương đó theo quan niệm của nhà làm luật. Sự quan tâm của nhà làm luật đối với vấn đề được điều chỉnh trong chương này còn thể hiện ở số lượng điều luật của chương (47 điều).

 

2. Khái quát nội dung các quy định về canh giữ, bảo vệ trong Chương Vệ cấm của Luật Hồng Đức

 

Chương Vệ cấm với 47 điều luật, từ Điều 50 đến Điều 96 không phải là một chương có nhiều điều luật nhất nếu so với các chương khác của Luật Hồng Đức. Tên gọi của chương - Vệ cấm, được dịch là “canh giữ bảo vệ”7; “Canh giữ ngăn cấm, bảo vệ”8. Nghiên cứu nội dung của chương này, cần phải phân biệt “canh giữ, bảo vệ” với “bảo vệ”, bởi thực chất đây là hai hoạt động khác nhau, hướng đến những đối tượng hoàn toàn khác nhau. Nói cách khác, khái niệm “bảo vệ” trong Chương Vệ cấm cần được hiểu theo nghĩa rộng, đối tượng được bảo vệ vừa là cung điện, thành quách, cửa ải, lăng mộ hoàng tộc…, vừa bao gồm cả con người. Con người - đối tượng của sự bảo vệ, không chỉ là nhà vua mà còn là những người xung quanh vua (như cung nữ, thái giám, nội thị) và cả sứ thần Việt đi sứ nước ngoài. Tuỳ thuộc vào đối tượng được bảo vệ, Luật Hồng Đức đưa ra những cách thức (phương pháp) bảo vệ khác nhau. Để bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy quyền của nhà vua, Luật quy định tất cả những hành vi nào xâm phạm đến khách thể này đều là tội phạm. Đối với những đối tượng khác như cung nữ, thái giám, nội thị, sứ thần Việt đi sứ nước ngoài, Luật bảo vệ theo cách ngược lại, Luật quy định ngăn cấm họ thực hiện những hành vi trái phép. Cách bảo vệ này, theo cách diễn đạt hiện nay, là “bảo vệ nội bộ”, “bảo vệ sự thuần khiết, trong sạch” của những người xung quanh nhà vua. Điều đáng nói ở đây là, nhà làm luật xưa đã khéo léo lồng cả hai phương pháp bảo vệ, lồng quy chế bảo vệ các đối tượng khác nhau vào trong cùng một chương, Chương Vệ cấm, để tập trung điều chỉnh.

 

Chương Vệ cấm không chỉ hàm chứa các quy định về vấn đề canh giữ, bảo vệ mà còn các quy định khác có liên quan. Có thể tạm phân loại các điều luật trong Chương này thành ba nhóm:

 

- Nhóm thứ nhất, quy định về chế độ canh giữ, bảo vệ các khu vực, công trình quan trọng (như kinh thành, hoàng thành, cung cấm, quan ải…).

 

- Nhóm thứ hai, các quy định liên quan trực tiếp đến việc bảo vệ tính mạng và sự an toàn của nhà vua trong và ngoài cung điện (chế độ bảo vệ yếu nhân trực tiếp).

 

- Nhóm thứ ba, quy định về chế độ sinh hoạt của những người xung quanh nhà vua và của sứ thần Việt đi sứ nước ngoài (chế độ bảo vệ gián tiếp những người có quan hệ tới sự an toàn, uy tín của nhà vua cũng như thể diện và lợi ích quốc gia).

 

Do sự liên quan giữa các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi ba nhóm quy định nói trên với các quan hệ xã hội khác, nên đối với vấn đề bảo vệ sự an toàn của nhà vua, bảo vệ quan ải cũng như chế độ sinh hoạt của sứ thần Việt đi sứ nước ngoài còn được quy định trong các chương khác (Chương Vi chế, Quân chính, Tạp luật…) của Luật Hồng Đức.

 

Đối tượng được nhà làm luật đặc biệt quan tâm bảo vệ là khu vực Kinh thành (Điều 67 - 69; Điều 78; Điều 93), Hoàng thành Thăng Long và Cung điện của nhà vua (Điều 51 - 56; Điều 59 - 64; Điều 66; Điều 70; Điều 80 - 82; Điều 84; Điều 90; Điều 92; Điều 94; Điều 96), khu Thái miếu và mộ các vua trước (Điều 50; Điều 85 - 87) và quan ải, đặc biệt là quan ải nơi biên giới (Điều 71 - 73; Điều 77; Điều 88). Nhìn vào số lượng cũng như tỷ lệ các điều luật trong nhóm này so với hai nhóm còn lại, có thể thấy chế độ canh giữ, bảo vệ các khu vực, công trình quan trọng là nội dung chính của Chương Vệ cấm, bởi bảo vệ các khu vực, công trình quan trọng, nhất là Hoàng thành và Cung điện của nhà vua cũng chính là bảo vệ sự an toàn cho vua cùng toàn thể hoàng tộc.

 

Nội dung chế độ canh giữ, bảo vệ Hoàng thành, Cung điện nhà vua được quy định cụ thể như sau:

 

- Mọi người chỉ được ra, vào Hoàng thành, Cung điện của nhà vua khi được phép ra, vào những nơi đó và phải có tên trong sổ quản lý. “Những người đã bị xoá tên trong sổ, phải ra khỏi cung điện, mà lưu lại không ra… (bị) xử tội tự tiện vào cung” (Điều 60); chỉ được phép ra vào cung điện nhà vua vào ban ngày, “người có chức phận được ra vào cửa cung điện, đều không được ra vào ban đêm, mà nếu ra vào trong ban đêm thì xử tội đồ. Người không được phép ra vào mà tự tiện ra vào thì phải xử tử”9 (Điều 63). Việc mở cửa hoàng thành, cấm cung đón vua và đông cung thái tử vào buổi đêm hoặc có việc quân khẩn cấp phi báo phải theo đúng quy định, “nếu xa giá còn ở xa, mới trông thấy nghi trượng đã vội mở cửa thì phải tội biếm, bãi, đồ. Có việc quân khẩn cấp phi báo… không đệ tâu lên thì xử nhẹ hơn tội tự tiện mở cửa một bậc” (Điều 94).

 

- Cấm tự tiện ra vào hoàng thành, cung điện; cấm bắn cung nỏ, bắn đạn và ném gạch đá vào trong cung, “người nào đem cung nỏ bắn vào trong cung điện thì bị tội đồ làm chủng điền binh…; bắn đạn và ném gạch đá thì tội giảm hai bậc” (Điều 64); cấm trèo lên cao nhìn vào cung điện nhà vua, “nếu người không phận sự gì mà trèo lên cao trông ngang vào trong cung điện nhà vua thì xử tội đồ” (Điều 59);

 

- Cấm mở cửa hàng buôn bán, cấm chăn thả súc vật trong hoàng thành, người vi phạm sẽ bị phạt 80 trượng (Điều 81); cấm làm đàn chay hay cư trú ở các chùa trong cấm nội, “làm đàn chay và cư trú ở các chùa chiền trong cấm nội thì phải biếm một tư” (Điều 90).

 

- Những người có trách nhiệm canh giữ, bảo vệ hoàng thành, cung điện phải thực hiện đúng chức trách được giao. “Những quân canh gác cửa hoàng thành và cấm điện mà không cẩn thận, để quan tuần tra bắt được đem trình thì bị xử tội biếm hay đồ. Quan đương trực chủ ty được giảm tội hai bậc” (Điều 96); “Những quan phụng sắc ban đêm khoá các cửa hoàng thành, cung điện và trong nội cấm khi đóng cửa rồi phải dâng lại chìa khoá; nếu không dâng hay để chậm, xử tội biếm và trượng. Nếu không phụng sắc mà tự tiện mở cửa thì bị xử lưu đi châu xa, tội nặng phải xử tử” (Điều 62).

 

Đối với khu vực Thái miếu (nơi thờ các vua trước) và khu mộ các vua trước, Chương Vệ cấm của Luật Hồng Đức quy định: cấm tự tiện ra vào, “người nào không có chức phận gì mà tự tiện vào xung quanh thái miếu và vào cửa sơn lăng triệu vực thì phải tội đồ làm khao đinh” (Điều 50); cấm chặt tre, cây gỗ, đào đất, hái củi, cắt cỏ ở khu vực này, “trong lăng mộ vua mà người nào đánh cháy thì phải tội lưu đi châu gần, cháy lan ra cây cối thì xử nặng hơn một bậc, và phải bồi thường sự thiệt hại…” (Điều 87). Những người có chức trách để cho người khác thực hiện một trong những hành vi trên đều bị phạt.

 

Điểm chú ý là, thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê có cấu trúc ba lớp: lớp ngoài gọi là thành Đại La, lớp thứ hai gọi là Hoàng thành, lớp thứ ba là Cấm thành. Cấm thành có các cung điện là nơi vua sinh hoạt và làm việc; “Hoàng thành có cấu trúc đặc biệt, ngoài Cấm thành, Đông cung, Thái miếu, còn bao bọc cả một khu dân cư cung cấp dịch vụ cho nhà vua và khu luyện tập võ nghệ gọi là khu Giảng Võ”10. Chế độ pháp lý khu vực Kinh thành ngoài phạm vi Hoàng thành được điều chỉnh bởi các Điều 67 - 69, Điều 78, 93 của Luật Hồng Đức. Theo các điều luật này, người dân trong thành không được đánh trống hò la, đi lại vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp; có việc phải đi vào ban đêm thì phải mang theo đèn đuốc, không mang đèn đuốc “nếu quan lục phẩm trở lên phải phạt tiền 5 quan, quan thất phẩm trở xuống phải tội xuy đánh 50 roi, người dân phải đánh 60 trượng” (Điều 68). Việc canh giữ, tuần phòng phải theo đúng quy định, nếu vi phạm thì “quan chủ ty thường trực bị phạt tiền 5 quan, người lính thường trực bị đánh 80 trượng” (Điều 67).

 

Đối với khu vực quan ải, cấm mọi hành vi chặt tre, đốn gỗ (Điều 88); cấm vượt qua quan ải đi sang nước ngoài; cấm bán ruộng đất ở bờ cõi cho người nước ngoài (Điều 74); cấm bán các đồ binh khí, các đồ da trâu, gân, sừng thú làm binh khí cho người nước ngoài; cấm bán mắm muối cùng các thứ hàng cấm cho người nước ngoài (Điều 72, 76); cấm lấy vợ, chồng là người nước ngoài, “nếu kết vợ chồng với người nước ngoài thì phải lưu châu xa, đôi vợ chồng ấy phải ly dị và bắt trở về nước” (Điều 71). Việc phòng bị ở nơi quan ải phải nghiêm ngặt, “các tướng sĩ phòng giữ nơi quan ải, nếu phòng bị không cẩn thận, dò la không đích thực để quân giặc đến bất ngờ đánh úp thì đều phải chém” (Điều 243)11.

 

3. Một số nhận xét về cách thức điều chỉnh pháp luật qua nghiên cứu các quy định về canh giữ, bảo vệ trong Luật Hồng Đức

 

Một là, cha ông ta đã có ý thức rất rõ ràng về phạm vi, mức độ của sự điều chỉnh cũng như kỹ thuật xử lý nhiệm vụ điều chỉnh trong quy định của pháp luật. Điều chỉnh pháp luật là lý thuyết pháp luật hiện đại có nguồn gốc từ các nước phương Tây. Các sách báo, tài liệu pháp lý chuyên khảo hiện nay bàn nhiều về đối tượng điều chỉnh, phương pháp và cơ chế điều chỉnh pháp luật. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ XV ở nước ta, chưa thể có khái niệm về sự điều chỉnh pháp luật, song trong tư duy pháp luật của những người soạn thảo Luật Hồng Đức, vấn đề mức độ và kỹ thuật xử lý nhiệm vụ của sự điều chỉnh luật được giải quyết khá thành công. Trước yêu cầu bảo vệ trật tự xã hội đương thời, nhà lập pháp có vô số những nhiệm vụ phải giải quyết, từ việc xử lý những vụ tranh chấp, xâm phạm tính mạng, tài sản trong dân, phát triển sản xuất, duy trì sức chiến đấu của quân đội đến việc bảo vệ quyền lợi của tầng lớp quan lại thống trị, đặc biệt là quyền lợi của giới địa chủ - quý tộc mà đứng đầu là nhà vua. Trong số những nhiệm vụ này, vấn đề bảo vệ quyền lợi của nhà vua tất yếu phải được đưa lên hàng đầu. Cần phải bảo vệ sự an toàn tuyệt đối cũng như quyền uy của vị quân chủ trước các thần dân. Vấn đề ưu tiên điều chỉnh đã được xác định, song mức độ của sự điều chỉnh như thế nào và thể hiện sự điều chỉnh đó về phương diện ngôn ngữ pháp lý cụ thể sẽ ra sao đã được nhà làm luật tập trung xử lý trong Chương Vệ cấm, chương thứ hai, ngay sau chương Danh lệ quy định các vấn đề chung của Luật. Trong Chương Vệ cấm, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhà vua, nhà làm luật đã khéo léo tách nhiệm vụ thành ba phần, phần thứ nhất xây dựng nên chế độ canh giữ, bảo vệ Kinh thành, Hoàng thành, Cấm thành để bảo vệ nhà vua cả nơi ở và nơi làm việc; phần khác xây dựng nên các quy định bảo vệ nhà vua bên ngoài khu vực “cư trú” thông qua việc quy định những hành vi dám xâm phạm hoặc có khả năng xâm phạm đến xa giá là tội phạm. Phần nhiệm vụ còn lại, nhà làm luật xây dựng chế độ sinh hoạt của những người gần gũi, xung quanh nhà vua như cung nữ, thái giám, thị vệ… để ràng buộc họ và thông qua sự ràng buộc đó, bảo vệ một cách gián tiếp cho nhà vua. Ba phần này tương ứng với ba nhóm quy phạm pháp luật trong Chương Vệ cấm đã được trình bày ở phần trên. Tiếp nữa, trong phần các quy định về chế độ canh giữ, bảo vệ Kinh thành, Hoàng thành, Cấm thành, nhà làm luật tập trung nhiều nhất các quy định vào bảo vệ Hoàng thành. Đây cũng là một cách xử lý rất khéo léo trong nghệ thuật điều chỉnh pháp luật bởi tập trung bảo vệ Hoàng thành là bảo vệ có hiệu quả nhất đối với sự an toàn của nhà vua và hoàng tộc - và lớn hơn là xã tắc. Nếu đẩy ranh giới của sự bảo vệ qua bức tường của Hoàng thành vào Cấm thành hoặc ra ngoài Kinh thành thì hiệu quả của sự bảo vệ sẽ bị hạn chế hơn nhiều.

 

Hai là, cha ông ta đã có sự tính toán hết sức chu đáo về mô hình điều chỉnh luật đối với các vấn đề cần xử lý bằng pháp luật và điều này có thể được thấy rõ qua các quy định trong Chương Vệ cấm của Luật Hồng Đức. Trong xây dựng pháp luật, trước hết phải có chính sách. Chính sách là nội dung, là “linh hồn” của pháp luật. Chính sách là “ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật” (K.Marx). Tuy nhiên, sau khi đã có chính sách rồi, vấn đề thiết kế mô hình điều chỉnh luật cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng bởi thiết kế tốt sẽ cho ra đời những quy định pháp luật tốt và ngược lại. Trong Chương Vệ cấm của Luật Hồng Đức, để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn và quyền lợi về mọi mặt của nhà vua, nhà làm luật trước hết đã liệt kê toàn bộ những hành vi có khả năng, trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể gây thiệt hại cho vua, sau đó sắp xếp, bố trí, lồng ghép các hành vi đó vào trong những tình huống điều chỉnh luật khác nhau. Tương ứng với mỗi tình huống đó, lại tính toán đến trách nhiệm của tất cả các bên chủ thể và những người có liên quan, vừa trừng phạt người có hành vi vi phạm đồng thời trừng phạt cả những người có trách nhiệm liên quan như quan chức, quân lính làm nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ vua và hoàng thành, cấm thành. Trong quy định về trừng trị, lại phân ra thành các mức độ, thang bậc của sự trừng trị; tính toán đến yêu cầu phân hoá các đối tượng bị trừng trị bằng cách lấy hình phạt của người chính phạm (người có hành vi vi phạm chính) làm căn cứ để quy định mức hình phạt của những người liên quan. Cách quy định tội phạm và hình phạt trong Chương Vệ cấm nói riêng, trong toàn bộ Luật Hồng Đức nói chung đó thể hiện Luật mang tính chi tiết, cụ thể, toàn diện song không rườm rà, dễ hiểu, dễ áp dụng và không bỏ lọt tội phạm.

 

Ba là, cha ông ta đã đạt đến trình độ nghệ thuật trong việc điều chỉnh những vấn đề liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật hệ trọng nhất của quốc gia. Xử lý vấn đề bí mật quốc gia trong điều chỉnh pháp luật là một “bài toán” khó đối với nhà làm luật. Một mặt, bí mật quốc gia là những thông tin quan trọng của đất nước mà chỉ có một số rất ít những người có trách nhiệm được phép biết, khai thác và sử dụng vì nhiệm vụ và lợi ích chung. Mặt khác, việc giải quyết những tình huống liên quan đến bí mật quốc gia lại không thể tuỳ tiện mà phải trong khuôn khổ luật pháp. Vấn đề quan trọng là, đưa những hoạt động có liên quan đến bí mật quốc gia, các thông tin bí mật bí mật quốc gia vào luật như thế nào để vừa tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt động hợp pháp, trừng trị người vi phạm trên cơ sở pháp luật, vừa không làm lộ, lọt bí mật quốc gia, không làm ảnh hưởng, gây hại đến sự ổn định, phát triển chung của đất nước. Thực tế là, những người xây dựng Luật Hồng Đức đã giải một cách xuất sắc bài toán về bí mật quốc gia. Đọc Chương Vệ cấm của Luật Hồng Đức, chúng ta có thể thấy quy định của luật rất rõ ràng, cụ thể, song qua sự rõ ràng, cụ thể đó, không thể tìm kiếm, khai thác được thông tin gì về bí mật của Hoàng cung, về cách bố trí lực lượng, tuần tra, kiểm soát hay về các hoạt động cụ thể khác của thị vệ đại nội. Phía sau sự rõ ràng về mặt pháp lý vẫn là một màn sương dày đặc của những bí mật cung đình. Đây thực sự là một nghệ thuật trong cách làm luật của người xưa.

 

4. Những bài học rút ra qua việc nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp Luật Hồng Đức

 

Một là, tính toàn diện, hệ thống và logic của văn bản luật. Đối với công tác xây dựng pháp luật, trước khi soạn thảo các dự thảo luật, cần phải làm rõ và chứng minh được nhu cầu điều chỉnh pháp luật. Nhu cầu điều chỉnh luật là những đòi hỏi mang tính khách quan, là những yêu cầu bức thiết của cuộc sống cần phải ban hành một văn bản pháp luật nhất định. Trên cơ sở làm rõ nhu cầu điều chỉnh luật, cần xác định các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ điều chỉnh luật cụ thể. Các mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ điều chỉnh luật cụ thể phải được xác định một cách toàn diện để không bỏ sót đối tượng điều chỉnh cũng như để đảm bảo tính logic, hệ thống, tính thống nhất chung của hệ thống văn bản pháp luật.

 

Hai là, quy định tỷ mỉ, chi tiết hành vi phạm tội và hình thức xử lý để dễ dàng áp dụng trong thực tiễn. Nhà làm luật cần tính toán mô hình điều chỉnh hợp lý trên cơ sở xử lý các nhiệm vụ điều chỉnh luật cụ thể đã xác định khi soạn thảo văn bản. Mô hình điều chỉnh là mô hình mang tính chất tổng thể về hành vi pháp lý dự kiến của các bên chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật mà Nhà nước mong muốn thể hiện trong văn bản luật. Mô hình điều chỉnh còn là mô hình động thái của Nhà nước, về cách thức và mức độ can thiệp của Nhà nước vào các quan hệ xã hội, là đối tượng điều chỉnh của văn bản luật đang được soạn thảo. Mô hình điều chỉnh là sự cụ thể hoá chính sách ở giai đoạn tiền văn bản luật, là cách thức xử lý nhiệm vụ điều chỉnh luật trước khi soạn thảo văn bản luật. Việc hình dung mô hình điều chỉnh luật đòi hỏi phải chuẩn xác, vừa mang tính bao quát để luật không rườm rà, vừa mang tính cụ thể để không biến văn bản luật thành “luật khung”, “luật ống”, để khi luật ban hành là có thể đi ngay vào cuộc sống, không cần chờ văn bản hướng dẫn.

 

Ba là, chú ý đến kỹ thuật lập pháp, văn phong, cách diễn đạt của văn bản luật. Ngôn ngữ luật vừa phải chính xác, đảm bảo tính khoa học, vừa phải trong sáng, rõ ràng, đại chúng, dễ hiểu để thực hiện đối với mọi người dân. Tránh dùng những thuật ngữ quá trừu tượng, từ có nhiều nghĩa trong luật, dẫn đến việc phải ban hành một văn bản luật khác giải thích cho văn bản luật đã ban hành. Các quy phạm định nghĩa trong văn bản luật cần chính xác về nội dung chuyên môn, rõ ràng về ý nghĩa ngôn ngữ học, phù hợp với các quy tắc ngữ pháp tiếng Việt. Việc tiếp nhận pháp luật nước ngoài cũng như quốc tế cần chuyển ngữ phù hợp với cách diễn đạt, cách tư duy, suy nghĩ của người Việt Nam, tránh tình trạng “dịch luật” trong các văn bản luật.

 

Bốn là, thể hiện hình thức điều chỉnh hợp lý những đối tượng liên quan đến bí mật quốc gia. Đối với những vấn đề “nhạy cảm” hoặc vấn đề liên quan đến bí mật nhà nước, cần có hình thức xây dựng luật cho phù hợp. Đặc tính cơ bản của pháp luật là mang tính quyền lực nhà nước và công khai đối với mọi chủ thể trong xã hội. Theo suy nghĩ của chúng tôi, những nội dung, vấn đề nào quan trọng, thực sự là bí mật nhà nước thì không nên đưa vào luật, còn những hoạt động liên quan đến nội dung, vấn đề đó cần thiết phải được điều chỉnh bằng luật thì nên tính toán khéo léo lồng ghép vào các văn bản luật để công bố công khai, vừa bảo đảm cho tính hợp pháp cho các hoạt động thi hành công vụ của cán bộ, công chức, vừa bảo vệ được một cách có hiệu quả bí mật nhà nước, tránh được nguy cơ lộ, lọt bí mật nhà nước.

 

Năm là, cần quy định hình phạt đối với người có hành vi trực tiếp phạm tội và quy định trách nhiệm của người có liên quan với mức xử lý nhẹ hơn. Việc quy định hình phạt đối với người có hành vi trực tiếp phạm tội, sau đó quy định trách nhiệm của người có liên quan với mức xử lý nhẹ hơn, thể hiện tính toàn diện và triệt để trong đấu tranh chống tội phạm, có tác dụng phòng ngừa, ngăn chặn cao và đề cao vai trò trách nhiệm của những người quản lý.

 

 

(1) Phan Huy Chú (2008), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. Giáo dục, tr.171.

 

(2) Viện Sử học Việt Nam (2003), Lời nói đầu trong cuốn Quốc triều hình luật, Nxb. TP.Hồ Chí Minh, tr.10; Về các văn bản luật được ban hành vào thời Lê nêu trên, có thể nghiên cứu cuốn Một số văn bản pháp luật Việt Nam thế kỷ XV-thế kỷ XVIII, Nxb. KHXH, 1994 và cuốn Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến XVIII, tập II, NXB KHXH, 2009.

 

(3)Xem Nguyễn Văn Thành và các tác giả khác (1995), Hoàng Việt luật lệ (Nguyễn Q. Thắng và Nguyễn Văn Tài dịch), Nxb. Văn hoá thông tin, tr.2.

 

(4) Vua Lê Thánh Tông có hai niên hiệu là Quang Thuận (1460-1469) và Hồng Đức (1470-1497).

 

(5) Lê Thị Sơn (chủ biên) (2004), Quốc triều hình luật - Lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, Nxb. KHXH, tr.55.

 

(6) Cao Huy Giu (dịch), Đại Việt sử ký toàn thư, của Ngô Sĩ Liên, tập II, tr.88. Nxb. Văn hoá Thông tin, năm 2004.

 

(7) Xem Quốc triều hình luật, Nguyễn Ngọc Nhuận và Nguyễn Tá Nhí dịch, Nxb. TP Hồ Chí Minh, 2003.

 

(8) Xem Lê triều hình luật, Nguyễn Q. Thắng dịch, Nxb. Văn hoá thông tin, 1997.

 

(9) Về hệ thống hình phạt phong kiến, theo Điều 1 Luật Hồng Đức, Nhà nước phong kiến Việt Nam đương thời quy định chế độ ngũ hình: xuy (đánh bằng roi làm từ cây song mây, róc bỏ mấu mắt), trượng (đánh bằng gậy làm bằng cây song mây không róc bỏ mấu mắt có kích thước lớn hơn roi), đồ (lao động khổ sai); lưu (lưu đầy ở những nơi xa, bắt lao động khổ sai) và tử (giết chết). Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị thích chữ vào mặt, bãi quan, biếm tước, phạt tiền… Các hình phạt ngoài ngũ hình, có thể được xem như những “hình phạt bổ sung” để hỗ trợ cho chế độ ngũ hình.

 

(10) Phạm Hân (2003), Tìm lại dấu vết thành Thăng Long, Nxb. Văn hoá Thông tin, tr.68.

 

(11) Điều luật này không nằm trong Chương Vệ cấm mà được quy định ở Chương Quân chính, quyển II Luật Hồng Đức vì liên quan đến quân đội.

 

NGUỒN: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

.

 

 
Vinalines mất 800.000 USD: Độ rủi ro phụ thuộc... hành xử

Vinalines mất 800.000 USD: Độ rủi ro phụ thuộc... hành xử

Theo www.vinacorp.vn

Vấn đề không phải là thiếu hiểu biết hoặc thiếu kinh nghiệm mà có vẻ như việc nắm không vững thông tin về diễn biến vụ việc tranh chấp dẫn tới việc đưa ra nhận định không phù hợp.

Đó là do TS. Trần Hữu Huỳnh nhận định.
Thời gian qua dư luận đặc biệt
quan tâm tới vụ Tổng công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) phải trả cho phía Trung Quốc 800.000 USD theo phán quyết của Toà án Trung Quốc để tàu Vinalines Global hoạt động bình thường trở lại.

Câu chuyện này còn đặt ra nhiều hoài nghi điều về năng lực trong việc giải quyết tranh chấp hàng hải của Việt Nam và câu chuyện non kinh nghiệm của các doanh nghiệp nước ta khi xảy ra tranh chấp
thương mại quốc tế.

TS. Trần Hữu Huỳnh, Phó chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, Trưởng ban pháp chế, Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã trao đổi về vấn đề này.

Thiếu hiểu biết hay thiếu thông tin?

- Thưa ông, một trong những vụ việc mà dư luận rất quan tâm hiện nay là Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) đã trả 800.000 USD cho phía Trung quốc do xảy ra tranh chấp thương mại. Ông bình luận như thế nào về sự kiện này?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Theo tôi thì đây là một tranh chấp ở hoạt động thương mại hàng hải quốc tế và rõ ràng nó có đặc điểm khác với tranh chấp thương mại trong nước.

 

Thứ nhất, đây là tranh chấp giữa các DN của một quốc gia khác với một DN thuộc quốc gia khác nên các doanh nghiệp Việt nam cần phải hiểu hệ thống pháp luật của họ. Thứ hai, phải hiểu tập quán thương mại quốc tế, đặc biệt trong trường hợp này là tập quán thương mại hàng hải quốc tế. Thứ ba, mình cần phải nắm rõ thông tin, thường xuyên theo sát được thông tin để tìm hiểu đối tác của chúng ta đã hành xử như thế nào.

Từ đó, lựa chọn áp dụng pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế hay tập quán thương mại hàng hải quốc tế để đánh giá đúng bản chất của vấn đề. Đó là cơ sở để đưa ra những hành xử phù hợp với pháp luật hoặc với thực tiễn hàng hải thương mại quốc tế.

- Nhưng có thể hiểu là Vinalines đã thiếu hiểu biết hoặc thiếu kinh nghiệm trong pháp luật này?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Theo tôi, vấn đề không phải là thiếu hiểu biết hoặc thiếu kinh nghiệm mà trong trường hợp này, có vẻ như việc nắm không vững thông tin về diễn biến vụ việc tranh chấp dẫn tới việc đưa ra nhận định không phù hợp.

- Theo ông, trường hợp Trung quốc bắt giữ tàu Vinalines thì đúng hay sai về mặt luật pháp quốc tế ?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Rõ ràng là nếu người gửi hàng đã thanh toán cước mà bắt giữ hàng của họ thì tôi nghĩ, nhìn chung là không phù hợp với pháp luật về hàng hải quốc tế cũng như là tập quán thương mại hàng hải quốc tế.

- Nhưng rõ ràng Vinalines đang bị nắm dao đằng lưỡi và không có được lợi  thế trong việc tranh chấp?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Trong trường hợp này, nếu không có căn cứ về mặt pháp luật thì rõ ràng chúng ta phải chịu một sự bất lợi. Khi đó, nếu thấy rằng hành vi của mình không phù hợp với các quy định của pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế, tập quán thương mại hàng hải quốc tế thì nên đưa ra cách giải quyết thương lượng một cách nhanh nhất để hạn chế bớt rủi ro.

- Theo kinh nghiệm của ông thì trên phương diện quốc tế đã xảy ra trường hợp kiểu như thế này chưa?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Tôi nghĩ chuyện này xảy ra thường xuyên từ khi có thương mại hàng hải quốc tế. Chúng tôi cũng đã từng giúp các DN giải quyết những trường hợp có xảy ra những tranh chấp liên quan đến vấn đề thuê tàu hoặc là vấn đề không thanh toán cước, và trước đây các luật sư hàng hải của chúng ta cũng đã có những trường hợp bắt giữ tàu biển rất thành công dựa trên cơ sở pháp luật quốc gia, quốc tế hoặc thực tế thương mại hàng hải quốc tế.

4 rủi ro trong thương mại quốc tế

- Vậy kinh nghiệm rút ra từ trường hợp này đối với chủ tàu Vinalines là gì?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Theo tôi thì không riêng gì vụ việc này mà nhìn chung, kinh doanh thương mại quốc tế thì cần phải chú ý đến các rủi ro.

Rủi ro thứ nhất là các rủi ro chính trị. Thứ hai là thiên tai. Thứ ba là rủi ro pháp lý và Thứ tư là rủi ro do chính mình. Có 4 loại rủi ro như vậy để khi có sự kiện xảy ra thì có thể tự xếp vào loại rủi ro nào để có những hành xử phù hợp.

Kinh doanh thương mại quốc tế thì cần phải chú ý đến các rủi ro.

 - Thưa ông trong những trường hợp xảy ra những việc tương tự như vậy thì các chủ tàu cần phải làm là gì?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Theo tôi thì trước hết phải đánh giá đúng, phải nắm vững được thông tin, diễn biến vụ việc và nắm vững tình hình đối tác để từ đó đưa ra được tình huống tranh chấp là như thế nào, rồi tài sản tranh chấp đang nằm trong mối quan hệ pháp luật nào. Mỗi loại tranh chấp sẽ được điều chỉnh bởi một quan hệ pháp luật mà nếu chúng ta đánh giá đúng được bản chất của nó để áp dụng pháp luật cho thật chính xác thì mới có thể đưa ra biện pháp phù hợp.

- Theo kinh nghiệm thực tế của ông thì trong trường hợp Vinalines chấp nhận phán xét của toà án Trung Quốc  như vậy đã theo thông lệ quốc tế chưa và khả năng nếu như tham gia tranh tụng thì có cơ sở để bảo vệ đựơc quyền lợi của Vinalines ?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Nếu như chúng ta đưa  ra những biện pháp xử lý sai làm thiệt hại cho các chủ thể có liên quan thì có thể lựa chọn thương lượng để giải quyết bồi thường thiệt hại hoặc con dùng con đường tư pháp giải quyết tranh chấp. Trường hợp sử dụng tư pháp trong các vụ tranh chấp quốc tế này thì phải ra toà án nước ngoài hoặc là trọng tài, tổ chức trọng tài nên các chi phí phát sinh sẽ tăng lên.

Cho nên, nếu do thông tin sai mà chúng ta xử lý tình huống sai thì cần nhanh chóng đánh giá tình hình để tìm những biện pháp giải quyết tranh chấp một cách ít tốn phí hơn. Ví dụ, nếu thấy rằng chúng ta áp dụng như vậy không phù hợp với pháp luật của quốc gia, của quốc tế thì thương lượng trực tiếp là cách hành xử hợp lý.

Không thể kết luận chung là năng lực VN kém

- Thưa ông qua vụ việc này có thể cho thấy rằng năng lực trong việc giải quyết tranh chấp hàng hải của Việt Nam yếu?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Tôi không nghĩ thế vì rõ ràng là VN hội nhập về hàng hải quốc tế cũng tốt và vào loại sớm và các tổ chức của chúng ta cũng thường xuyên tập huấn cho các chủ tàu, các chủ hàng, những người gửi hàng và các tranh chấp ở Việt Nam cũng đã xảy ra. Việt Nam cũng đã thông qua những pháp lệnh và thủ tục bắt giữ tàu biển, tham gia một số công ước hàng hải quốc tế.

Vì thế, một vài trường hợp do thông tin ban đầu không chính xác nên đưa ra những hành xử sai thì cũng không thể kết luận rằng năng lực nói chung của các chủ tàu VN hiện nay là kém được. Chúng ta có nhiều luật sư hàng hải nói chung có kinh nghiệm và tương đối thành công trong việc xử lý tranh chấp thương mại hàng hải quốc tế lẫn trong nước.

- Trong một vài năm trở lại đây, đặc biệt là năm 2010, xảy ra rất nhiều vụ tàu biển Việt Nam bị lưu giữ tại nước ngoài. Theo ông, tại sao những trường hợp như thế này cứ liên tiếp xảy ra?

TS. Trần Hữu Huỳnh: Như chúng tôi đã phân tích là có những rủi ro bao gồm rủi ro pháp lý; rủi ro về thị trường; rủi ro về vấn đề quản lý của các quốc gia và rủi ro về chính trị. Chúng ta cần phải căn cứ vào đó để xem nó rơi vào trường hợp nào.

Trường hợp vừa rồi chủ yếu liên quan đến tranh chấp giữa người chủ tàu và người thuê tàu. Còn trong những trường hợp khác thì có thể bắt giữ vì vấn đề ô nhiễm môi trường, an toàn hàng hải.. Có rất nhiều lý do để tàu biển bị bắt giữ. Như vậy chúng ta cần phân tích xem trong trường hợp cụ thể, tàu biển bị bắt giữ vì lý do gì, nó liên quan đến vấn đề tranh chấp tư giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp hay liên quan đến vấn đề trật tự quản lý của quốc gia nơi mà tàu VN đang hoạt động để từ đó rút ra kết luận.

Có những vấn đề liên quan tới nâng cao năng lực pháp luật nhưng cũng có những vấn đề thuộc về nâng cao
chất lượng của đội tàu của ta để tàu có khả năng đi biển và đảm bảo công ước hàng hải quốc tế mà Việt Nam tham gia. Lúc bấy giờ chúng ta phân loại các loại tranh chấp để từ đó khuyến cáo các chủ tàu phải lưu ý trong các trường hợp cụ thể.

- Xin cảm ơn ông!

 

 
Án lệ trong hệ thống pháp luật dân sự các nước Pháp, Đức và việc sử dụng án lệ ở Việt Nam

THS. NGUYỄN VĂN NAM – Học viện An ninh nhân dân

Lịch sử áp dụng án lệ ở các hệ thống dân luật thành văn ở Châu Âu đã trải qua các thời kỳ từ chỗ thừa nhận án lệ đến thời kỳ vai trò của án lệ bị từ bỏ trong xu hướng pháp điển hoá pháp luật trong thế kỷ XIX. Nhưng trong suốt thế kỷ XX và đến nay, vai trò của án lệ ngày càng được đề cao trong các hệ thống pháp luật dân sự thành văn ở Châu Âu. Bài viết này cho thấy, án lệ đã có một lịch sử tồn tại và phát triển trong hệ thống pháp luật dân luật thành văn của nước Pháp và Đức ở Châu Âu.

I. Án lệ trong truyền thống dân luật của Pháp và Đức

1. Án lệ trong truyền thống dân luật La Mã trước thế kỷ XIX

Sẽ thú vị nếu chúng ta biết rằng, án lệ đã được nhận thức là có một vai trò quan trọng trong pháp luật La Mã, bằng chứng là việc Hoàng đế Severus (cai trị La Mã từ năm 193 đến năm 211) đã cho phép các thẩm phán bổ sung những lỗ hổng của luật thành văn bằng tập quán và thực tiễn xét xử của các vụ việc tương tự (có thể coi như là hình thức án lệ). Nhưng đến năm 529, Hoàng đế Justinian đã cấm các thẩm phán La Mã quyết định các vụ việc mà không dựa vào luật thành văn. Bốn năm sau, Justinian đã khôi phục lại chính sách của Severus bằng việc cho phép các thẩm phán bổ sung những kẽ hở của pháp luật thành văn khi áp dụng nó. Vì vậy mà trong lịch sử pháp luật La Mã, các văn bản tập hợp các bản án và lời phân tích nó (Digest) được coi là có giá trị pháp lý như là luật khi thẩm phán sử dụng nó1.

Vào thế kỷ XIV, Toà án tối cao của giáo hội Công giáo (Rota Romana) ở Roma đã vận dụng các án lệ vào hoạt động xét xử và các án lệ của nó đã được toà án cấp dưới tuân thủ. Cho đến thế kỷ XVIII, khi luật La Mã được hồi sinh ở Châu Âu lục địa, hình thức pháp luật chung ở Châu Âu ra đời (jus commune)2 thì án lệ vẫn được áp dụng phổ biến ở hệ thống pháp luật các nước Châu Âu sử dụng luật La Mã. Nhưng thực tiễn áp dụng án lệ đã từng bị đánh giá thấp khi xu hướng pháp điển hoá pháp luật diễn ra mạnh mẽ ở Châu Âu bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX.

2. Vai trò ngày càng quan trọng của án lệ ở Pháp và CHLB Đức sau thời kỳ pháp điển hoá ở Châu Âu thế kỷ XIX

2.1. Án lệ trong pháp luật Cộng hoà Pháp

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tư sản Pháp và các quan điểm tiến tiến của chủ nghĩa triết học khai sáng, nước Pháp đã mở đầu cho xu hướng pháp điển hoá pháp luật ở Châu Âu. Bộ luật Dân sự (BLDS) Pháp 1804 (còn được gọi là BLDS Napoleon), được xem là một sản phẩm lập pháp nổi tiếng của tiến trình pháp điển hoá pháp luật ở Pháp. Tuy nhiên, sự đề cao quá mức vai trò của các bộ luật được pháp điển hoá đã dẫn đến việc xem nhẹ vai trò của toà án trong phát triển án lệ. Điều 5 BLDS Pháp 1804 đã quy định “Cấm các thẩm phán đặt ra những quy định chung có tính chất quy chế để tuyên án đối với những vụ kiện được giao xét xử”. Điều luật này đã gián tiếp cấm việc sử dụng án lệ trong hoạt động xét xử của các thẩm phán ở Pháp. Các thẩm phán Pháp đã gặp rất nhiều trở ngại trong việc áp dụng những quy định mang tính chất khái quát và nguyên tắc trong BLDS 1804. Các học giả Pháp đã chỉ ra, bên cạnh những ưu việt mà pháp điển hoá đem lại như tính thống nhất, bao quát, tính dễ tiếp cận, pháp điển các bộ luật còn bộc lộ các hạn chế cố hữu như: tính không khả thi do các qui định mang tính chung chung, không rõ; tính lạc hậu do không được cập nhật3. Bản chất và lợi ích của việc thừa nhận án lệ đã được nghiên cứu rất nhiều trong luật học của nước Pháp kể từ khi BLDS 1804 ra đời. Portalis là một luật gia có công tham gia xây dựng BLDS năm 1804 đã cho rằng ‘cần phải có án lệ vì luật không thể giải quyết hết mọi vấn đề của BLDS”4. René David nhận xét: bắt đầu từ đầu thế kỷ XX, ảo tưởng về giá trị của luật thành văn là nguồn luật thuần nhất đã dần bị xoá bỏ5. Trong điều kiện như vậy, vai trò giải thích pháp luật của thẩm phán đã được đề cao để bổ sung những kẽ hở của pháp luật. Một số học giả cho rằng, về bản chất, việc làm luật của thẩm phán là có thể chấp nhận được. “Thật là không thực tế khi nói rằng thẩm phán tuyên bố pháp luật mà không được tạo ra luật. Chúng ta biết rằng, việc áp dụng pháp luật không thể bỏ qua việc giải thích pháp luật”6.

Án lệ trong lĩnh vực luật dân sự là yếu bổ sung cho sự trường tồn của BLDS Pháp. Nhìn chung, sẽ là sai lầm nếu ai đó cho rằng, BLDS nước Pháp được pháp điển hoá rất chi tiết và đầy đủ, nó sẽ là cơ sở để giải quyết được tất cả những vấn đề pháp luật dân sự nảy sinh trong xã hội. Theo Portalis “luật pháp đứng yên trong khi đời sống xã hội của con người luôn thay đổi, vì lý do đó mà không ai có thể qui định tất cả mọi vấn đề có thể phát sinh”7. Trên cơ sở lý luận như vậy, Portalis đã đưa ra quan điểm rất thực tế về chức năng của BLDS 1804, nó không thể bao quát toàn bộ các vấn đề mà nhà làm luật có thể tiên đoán. Ông thừa nhận “chức năng của hoạt động lập pháp là tạo lập cái nhìn bao quát trong các ngôn từ chung của pháp luật; là việc đặt ra các nguyên tắc cho nhiều trường hợp cụ thể hơn là chi tiết hoá trong mọi câu hỏi về các tình huống có thể nảy sinh”8. Phạm vi bao quát trong các quy định của BLDS Pháp là rất rộng. Thực tiễn đã cho thấy, án lệ trong lĩnh vực luật dân sự đã và đang đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển pháp luật dân sự ở Pháp. Điều này có thể hiểu là, các thẩm phán nên giải thích các qui định, nguyên tắc của BLDS Pháp một cách linh hoạt để nó phù hợp với sự thay đổi của đời sống xã hội. Thực sự thì Portalis đã tiên đoán được việc BLDS Pháp sẽ không thể tồn tại tách rời với những án lệ của các vụ án dân sự. Án lệ trong luật dân sự chính là nguồn luật bổ trợ cho luật thành văn. Nhiều điều luật trong BLDS được giải thích bởi các toà án. Điều này làm cho các án lệ trong lĩnh vực luật dân sự trở thành phương tiện để hiểu được BLDS. Những án lệ quan trọng nhất trong lĩnh vực luật dân sự ở Pháp được thiết lập bởi Toà phá án9.

Án lệ trong lĩnh vực luật hành chính: Không giống như lĩnh vực luật dân sự, luật hành chính của Pháp không được pháp điển hoá. Thực tiễn cho thấy, luật hành chính ở Pháp được phát triển trên cơ sở án lệ. Cũng có thể nói rằng, án lệ đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển ngành luật hành chính hơn bất cứ ngành luật nào trong hệ thống pháp luật của Pháp. Với tư cách là toà án cấp cao nhất trong ngạch toà hành chính, Tham chính viện (Conseil d’Etat)đã đưa ra rất nhiều quyết định được coi là những án lệ của luật hành chính. Khi không có văn bản pháp luật điều chỉnh những vấn đề cụ thể, các toà hành chính ở Pháp đã tự đặt ra những quy tắc, giải pháp đối với các tranh chấp hành chính trước toà. Các cơ quan hành chính nhà nước luôn tôn trọng các quyết định của Tham chính viện và coi đó như là nguồn của luật hành chính. Thực tế pháp luật hành chính ở Pháp thừa nhận “mặc dù ngày càng có sự gia tăng các văn bản quy phạm luật hành chính, nhưng án lệ vẫn là nguồn quan trọng của luật hành chính”10. Tuy nhiên cần lưu ý rằng, mặc dù án lệ được thừa nhận và một nguồn của luật hành chính, nhưng nó không có giá trị bắt buộc. Án lệ trong luật hành chính được sử dụng rất linh hoạt để nó thích hợp với sự phát triển của các quan hệ pháp luật hành chính. Trong mối quan hệ giữa các văn bản quy phạm pháp luật hành chính và án lệ, thì văn bản luật bao giờ cũng có hiệu lực cao hơn. Nhưng trong một số rất ít trường hợp, các án lệ hành chính lại có hiệu lực cao hơn văn bản quy phạm. Ví dụ, Tham chính viện đã tạo ra án lệ nổi tiếng trong bản án Koné ngày 03/07/1996 về vấn đề “Nhà nước phải từ chối dẫn độ người nước ngoài trong trường hợp việc dẫn độ được yêu cầu vì mục đích chính trị”11.

2.2. Án lệ trong hệ thống pháp luật CHLB Đức

Không giống với nước Pháp, cho đến năm 1871, nước Đức vẫn chưa có một hệ thống pháp luật thống nhất12. Trong khi BLDS 1804 của Pháp đã có những thành quả và tạo ra sự ảnh hưởng đến các nước Châu Âu thì quá trình pháp điển hoá pháp luật ở nước Đức vẫn chưa phát triển. Phải đến năm 1900, BLDS Đức mới chính thức ra đời. Việc pháp điển hoá pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng ở Đức không phải là bản sao mô hình của Pháp. Trong xu hướng pháp điển hoá pháp luật ở Đức, vị trí của án lệ chưa bao giờ bị đánh giá thấp trong hệ thống pháp luật. Như chúng ta đã biết, ở Châu Âu có hình thức thông luật, nó được phát triển trong quá trình tiếp nhận luật La Mã. Trong trường hợp không có sẵn văn bản pháp luật hay tập quán, các các thẩm phán Đức đã áp dụng linh hoạt các nguyên tắc của luật La Mã trong xét xử. Vì thế có thể nói, trong khoảng thời gian từ thế kỷ thứ XVII đến thế kỷ thứ XVIII, án lệ đã đóng vai trò quan trọng trong pháp luật Đức13. Trong thế kỷ thứ XIX, Friedrich Carl von Savigny đã thừa nhận án lệ là một nguồn luật tồn tại cùng với những nguồn luật khác như luật thành văn, tập quán. Là người từng ging dạy luật La Mã trong một thời gian dài, Savigny đã phản đối ý tưởng chỉ coi các bộ luật pháp điển hoá là nguồn luật duy nhất. Theo ông, nhất thiết phải có án lệ là nguồn luật hỗ trợ quy phạm trong các văn bản luật được pháp điển hoá. Ông cho rằng “luật pháp sẽ đi vào cuộc sống như những tập quán và sẽ được thừa nhận phổ biến thông qua sự vận dụng của nó, mà không phải thông qua sự độc đoán chuyên quyền của nhà làm luật”. Điều đáng chú ý là, trong xu hướng pháp điển hoá pháp luật đang thịnh hành ở Châu Âu, Savigny đã cố gắng bảo vệ quan điểm của ông về ý tưởng chấp nhận án lệ như là một nguồn luật trong số những nguồn luật khác trong hệ thống pháp luật. Trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đã có nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của án lệ ở Đức. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, từ những năm giữa thế kỷ XIX, Toà án tối cao của Đức đã công bố các bản án14.

Không ai có thể phủ nhận vai trò quan trọng của các bộ luật và luật thành văn ở Đức, tuy nhiên trong rất nhiều lĩnh vực, chúng ta không thể hiểu được nội dung thực sự của các văn bản luật nếu không tìm hiểu các án lệ liên quan đến việc giải thích pháp luật. Ví dụ, từ “vũ khí” (weapon) trong Bộ luật Hình sự Đức năm 1871, đã không chi tiết hoá tất cả những loại vũ khí mà người phạm tội sử dụng khi phạm tội được qui định trong bộ luật này. Trường hợp một người dùng hydrochloric acid để tấn công người khác thì có phải là sử dụng vũ khí hay không? Toà án tối cao CHLB Đức đã giải thích về thuật ngữ này trong án lệ năm 1971 như sau: “Theo Bộ luật Hình sự Đức được ban hành năm 1871, vũ khí chỉ bao gồm các công cụ máy móc được sử dụng làm công cụ tấn công. Sau thời điểm này, khái niệm này đã thay đổi. Ngày nay, các chất hoá học dùng làm phương tiện để tấn công cũng được coi là vũ khí. Vì vậy hydrochloric acid được xếp là một loại vũ khí”15.

Sự hiểu biết và thông thạo các án lệ trong lĩnh vực dân sự có lẽ là cách tốt nhất để các thẩm phán và luật sư ở Đức áp dụng đúng các qui định của BLDS Đức năm 1900. Trong BLDS Đức, các quy định về hợp đồng, bồi thường thiệt hại v.v.. đã được hỗ trợ bởi hàng loạt những án lệ. Ví dụ, Điều 181 BLDS Đức 1900 quy định một chi nhánh không được cam kết, khi không có sự đồng ý của Công ty mẹ của nó, các hợp đồng nhân danh công ty mẹ, trừ những giao dịch trong phạm vi nghĩa vụ của chi nhánh. Tòa án tối cao CHLB Đức đã giải thích điều 181 với cách hiểu là: các chi nhánh không thể tham gia các giao dịch dân sự khi không có sự cho phép, trừ trường hợp các giao dịch đó chỉ đem lại lợi ích cho công ty mẹ16. Án lệ của Tòa án tối cao CHLB Đức (về dân sự và hình sự) luôn được các toà án cấp dưới tuân theo khi áp dụng trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Nếu toà án cấp dưới không tuân theo cách giải thích và áp dụng pháp luật của các bản án mà Tòa án tối cao CHLB Đức đã tuyên, thì các toà án cấp dưới có nghĩa vụ giải thích rõ vì sao nó không tuân theo17. Thậm chí các luật sư cũng phải thực sự quan tâm đến án lệ, bởi nếu không chú ý đến các án lệ của các toà án cấp cao, thì luật sư có thể sẽ phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng vì tư vấn không đúng.

Trong lĩnh vực luật Hiến pháp, các án lệ của Toà án Hiến pháp CHLB Đức có hiệu lực như luật, nó bắt buộc các toà án cấp dưới phải tuân theo. Điều 31.1 của Luật Toà án Hiến pháp Đức quy định “Các quyết định của Toà án Hiến pháp CHLB Đức có hiệu lực bắt buộc với các cơ quan của chính quyền liên bang và các tiểu bang cũng như tất cả những toà án và các cơ quan nhà nước khác”. Toà án Hiến pháp CHLB Đức có vị trí đặc biệt trong hệ thống toà án của nước Đức. Các quyết định của nó có hiệu lực cao hơn luật liên bang, trừ Hiến pháp. Đây là một đặc trưng cơ bản khi đề cập tới vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật nước Đức hiện nay.

2.3. Tiến trình khẳng định vai trò của án lệ trong hệ thống pháp luật Pháp và Đức cho thấy, mặc dù không có truyền thống pháp luật phát triển dựa trên cơ sở các án lệ là nguồn luật cơ bản như hệ thống pháp luật các nước trong hệ thống thông luật, nhưng án lệ đã trở thành xu hướng phát triển của hai hệ thống pháp luật Pháp và Đức, là một bộ phận không thể thiếu trong pháp luật của những nước này. Tuy nhiên, cách áp dụng án lệ trong pháp luật Pháp và Đức vẫn có điểm khác biệt so với cách sử dụng án lệ ở các nước thông luật. Do bị ảnh hưởng bởi truyền thống coi trọng luật thành văn để luận giải các quyết định trong bản án, nên các phán quyết của các toà án Pháp, Đức thông thường không sử dụng phương pháp phân tích tương tự các án lệ để làm cơ sở cho các quyết định của bản án18. Hơn nữa, trong một không gian pháp luật của Liên minh Châu Âu rộng lớn hơn phạm vi pháp luật quốc gia, cách thức sử dụng và áp dụng án lệ của Toà án công lý Châu Âu đã tác động không nhỏ đến tư duy pháp luật của các thẩm phán ở Pháp và Đức. Bởi vì khi giải quyết các vấn đề có liên quan đến pháp luật của Liên minh châu Âu, thẩm phán của cả hai hệ thống pháp luật Pháp và Đức không thể tránh khỏi việc sử dụng các án lệ của Toà án công lý Châu Âu. Điều này đã tác động đến văn hoá pháp lý trong xét xử của các thẩm phán các nước thành viên. Việc vận dụng án lệ với vai trò là nguồn luật bổ trợ để tăng tính thuyết phục cho các bản án đã và đang trở thành một xu hướng nổi bật trong nội dung các bản án của Toà án các nước thuộc hệ thống pháp luật dân luật ở Châu Âu.

II. Thiết lập và sử dụng án lệ ở Việt Nam

Từ năm 2004, Toà án nhân dân tối cao (TANDTC) nước ta đã thường xuyên chọn lọc và công bố các Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC19. Đây là điều kiện tiền đề cho việc thừa nhận án lệ ở Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, với tư cách là một thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Việt Nam cần phải tuân thủ các nguyên tắc về minh bạch hoá, trong đó yêu cầu các toà án cần phải công bố công khai các bản án của mình. Ở Việt Nam không tồn tại một truyền thống sử dụng các án lệ. Vì vậy, nên hay không nên chấp nhận án lệ ở Việt Nam đang là vấn đề được tranh luận. Một số luật gia cho rằng, nếu án lệ được chấp nhận trong hệ thống pháp luật, nó sẽ tạo ra một sự tuỳ tiện trong vai trò quyết định của thẩm phán, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam20. Một số người khác lại cho rằng, án lệ là một nguồn luật chỉ tồn tại trong hệ thống pháp luật Common – Law mà không có trong hệ thống pháp luật XHCN. Về cơ bản, án lệ được chính thức thừa nhận là một nguồn luật trong hệ thống pháp luật Common Law, nhưng sẽ là sai lầm khi cho rằng, án lệ không có vai trò gì trong những hệ thống pháp luật dân sự thành văn (Civil Law System).

Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay, án lệ vẫn chưa được chính thức thừa nhận và được toà án sử dụng. Tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài trong việc xây dựng và áp dụng án lệ thực sự là cần thiết đối với hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay cũng như trong tương lai. Nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta nhìn nhận sự phát triển một cách bao quát và chi tiết với từng hệ thống pháp luật cụ thể, thậm chí sự phát triển của án lệ trong từng lĩnh vực pháp luật cụ thể ở các nước trên thế giới.

Xét về mặt lịch sử, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa từng bị ảnh hưởng bởi truyền thống thông luật. Những khái niệm về nguyên tắc “stare decisis” (nguyên tắc bắt buộc tuân theo án lệ) chưa từng được đánh dấu trong văn hoá pháp lý Việt Nam. Nhưng Nghị quyết số 49/NQ-TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 đã đề ra mục đích xây dựng và hoàn thiện từng bước hoạt động của Toà án nhân dân là “TANDTC có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm và tái thẩm”21. Thuật ngữ “án lệ” được coi là rất mới trong Nghị quyết số 49/NQ-TW, vậy xu hướng cải cách tư pháp đến năm 2020 sẽ hướng đến việc phát triển án lệ ở Việt Nam theo mô hình nào? Mô hình các nước thông luật như Anh, Mỹ hay mô hình án lệ ở các nước Châu Âu như Pháp, Đức? Đây thực sự là một thách thức cho việc phát triển án lệ ở Việt Nam.

Có thể coi hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay mang nhiều đặc trưng của một hệ thống pháp luật hỗn hợp giữa những đặc trưng của hệ thống pháp luật XHCN truyền thống và những nhân tố của pháp luật nước ngoài được du nhập một cách có chọn lọc vào Việt Nam. Nhận xét của Peter de Cruz về xu hướng phát triển về hệ thống pháp luật của nước Nga sau năm 1992 theo hướng trở lại hệ thống pháp luật dân luật thành văn hay thành một hệ thống pháp luật hỗn hợp, cấy ghép (hybrid system)22 có ý nghĩa đối với việc nhận diện hệ thống pháp luật Việt Nam. Sự thay đổi quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam chính là những nhân tố pháp luật nước ngoài được tiếp nhận ở Việt Nam, và sự cải cách pháp luật để phục vụ cho mục đích xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam phù hợp với sự phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Xét về hình thức pháp lý như tiêu chí về nguồn luật, phương pháp pháp luật, hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với hệ thống pháp luật các nước dân luật thành văn như Pháp và Đức của Châu Âu lục địa hơn là hệ thống thông luật Anh-Mỹ. Tuy nhiên, trong vấn đề về án lệ, cũng giống như nhiều chủ đề nghiên cứu dưới góc độ luật so sánh, sẽ không có một giải pháp duy nhất nhằm tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài vào Việt Nam. Những nhân tố hợp lý của án lệ trong thông luật cũng sẽ rất có giá trị khi nó được tiếp nhận phù hợp vào môi trường văn hoá pháp lý Việt Nam. Đặc biệt, nên coi án lệ ở Việt Nam là các quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC có vai trò là nguồn luật hỗ trợ việc giải thích pháp luật khi Tòa án áp dụng pháp luật trong các vụ việc cụ thể.

Chú thích:

(1) W. Baade, Hans, Stare Decisis In Civil-law Countries: The Last Bastion, in The Themes In Comparative Law In Honour Of Bernard Rudden, Edited by Peter Birks and Arianna Pretto, Oxford University Press, 2000.p.1.

(2) Một hình thức pháp được hình thành trên nền tảng các nguyên tắc của luật La Mã.

(3) Steiner, Eva, French Legal Method, Oxford University Press, 2002.p.p.37-40.

(4) Jacques Nunez, ‘Thẩm phán và Bộ luật Dân sự Pháp’ trong Tham luận Hội thảo 200 năm Bộ Luật Dân sự Pháp,Nhà Pháp Luật Việt Pháp, Hà Nội, tháng 11, 2004, trang 87.

(5) Hans W. Baade, Stare Decisis In Civil-law Countries: The Last Bastion, in ‘The Themes In Comparative Law In Honour Of Bernard Rudden, Edited by Peter Birks and Arianna Pretto, Oxford University Press, 2000.p.4.

(6) Guy Canivet, The Court of Cassation: Looking Into The Future, Law Quarter Review, 2007, 123 (JUL), p.p. 401-416.

(7) John Bell, Sophie Boyron, and Whittaker ( with contributing authors Andrew Bell, Mark Freeland and Helen Stalford), Principles of French Law, Second Edition, Oxford University Press, 2008,p.26.

(8) J.-E.-M. Portalis, ‘Discours prộliminaire sur le project de Code civil’ in F.Ewald (ed.), Naissance du Code civil (Paris, 1989), 41. quoted by John Bell, Sophie Boyron, and Whittaker ( with contributing authors Andrew Bell, Mark Freeland and Helen Stalford), Principles of French Law, Second Edition, Oxford University Press, 2008,p.31.

(9) Tòa phá án: Pháp, cũng như các quốc gia theo dân luật khác (và cả của Việt Nam dưới thời thuộc Pháp), tổ chức một cấp Tòa phá án, có nhiệm vụ xem xét lại vấn đề áp dụng pháp luật của các tòa cấp dưới. Ở đây, Tòa Phá án Pháp (Cour de Cassation) được xem như Tòa án tối cao trong nhánh Tòa tư pháp. Trụ sở ở Pari, gồm có 6 tòa (5 tòa dân sự và 1 tòa hình sự) để xét lại những bản án chung thẩm của các tòa thượng thẩm và các tòa đại hình mà bị kháng nghị trong toàn nước Pháp và Đông Dương cùng các thuộc địa khác của Pháp. Tòa phá án không xét xử về nội dung sự việc mà chỉ xem xét bản án bị kháng nghị về 3 yếu tố để hủy án là: có vi phạm pháp luật không; có vô thẩm quyền không và có vô căn cứ pháp luật không. Nếu xét thấy có 1 trong 3 yếu tố nói trên, Tòa phá án sẽ tuyên hủy và trả về cho một cấp tòa án khác xét xử lại, Tòa phá án không có quyền giữ lại vụ án để xét xử. Nguồn: https://lawsoft. thuvienphapluat.vn/Default.aspx?ct=TVBT (Chú thích của BTV)

(10) Marine Lombard, Gilles Dumont, Pháp Luật Hành Chính Của Cộng Hòa Pháp, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội-, 2007,tr 63.

(11) Marine Lombard and Gilles Dumont, Pháp Luật Hành Chính Của Cộng Hòa Pháp, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội-, 2007,tr 52.

(12) Michael Bogdan, Comparative Law, Kluwer Norstedts Juridik Tano,1994.p.185.

(13) Robert Alexy, Kiel And Ralph Dreier, Precedent In The Federal Republic Of Germany, in ‘Interpreting Precedents A Comparative Study’, Edited by MacCormick and R.S. Summers, Ashgate Publishing Company, 1997, p.40.

(14) Gap-filling in judicial decision- making can be simply understood that a court can modify the gap in a statutory law in the course of applying its provision to a concrete case.

(15) Robert Alexy and Ralph Dreier, Statutory Interpretation in The Federal Republic of Germany, in ‘D. Neil MacCormick and Robert S. Summers, Interpreting Statutes A Comparative Study, Dartmouth Publishing Company Limited, 1991, p.84.’

(16) Robert Alexy and Ralph Dreier, Statutory Interpretation in The Federal Republic of Germany, in ‘D. Neil MacCormick and Robert S. Summers, Interpreting Statutes A Comparative Study, Dartmouth Publishing Company Limited, 1991, p.89.’

(17) R Alexy, A Theory of Legal Argumentation, Oxford Claredon Press, 1989.

(18) Tuy nhiên xu hướng này đang có thay đổi mạnh mẽ. Bằng chứng là hiện nay trong các phán quyết của Toà án Hiến pháp CHLB Đức, việc viện dẫn trực tiếp các án lệ đó trở nên phổ biến. Đặc biệt, Toà án Hiến pháp Đức cũng cho phép công bố các ý kiến bất đồng (dissenting oponions) của các thẩm phán trong hội đồng xét xử cùng với nội dung của bản án.

(19) TANDTC, Quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC (Đặc san của Tạp chí TAND – Quyển I, II), Hà nội 2004. Trong các năm 2005, 2006, 2009 TANDTC tiếp tục công bố các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán về Dân sự, Kinh doanh, Thương mai, Lao động và Hình sự.

(20) Xem Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lý luận Nhà nước và pháp luật, Nxb. Tư pháp, H, 2006, tr354-355.

(21) Xem NQ 49/NQ-TW ngày 02/06/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

(22) Peter de Cruz, Comparative Law In A Changing World, Cavendish Publishing,1999, p.183-204.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ

 
Vấn đề “Di tặng”
“Di tặng” theo quy định tại Điều 671 Bộ luật Dân sự
 
ThS. Vũ Thị Lan Hương - Bộ môn Luật, Đại học Lao động - xã hội.1. Điều kiện để được nhận di tặngĐiều 671 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định về di tặng: “1. Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. 2. Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.Theo quy định này, căn cứ phát sinh di tặng là do người lập di chúc chỉ định cho người được di tặng được hưởng di sản trong một bản di chúc có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, người được di tặng không phải là người thừa kế theo di chúc. Mặc dù họ cũng được hưởng một phần di sản của người lập di chúc giống như người thừa kế theo di chúc, nhưng họ lại không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ của người này. Đây là căn cứ xác định sự khác biệt giữa người được di tặng với người thừa kế theo di chúc.Nhưng Điều 671 không quy định cụ thể điều kiện để một người được nhận di tặng mà chỉ quy định chung: Người lập di chúc được dành một phần tài sản để di tặng cho người khác. Vậy “người khác” ở đây được hiểu như thế nào? Chỉ là cá nhân hay có thể bao gồm cả cơ quan, tổ chức? Theo chúng tôi, người được di tặng có thể là cá nhân và cũng có thể là cơ quan, tổ chức. Bởi lẽ, mặc dù không quy định cụ thể “người khác” bao gồm những ai, nhưng BLDS cũng không quy định: người được di tặng chỉ có thể là cá nhân.Vấn đề được đặt ra ở đây là, người được di tặng có cần thỏa mãn các điều kiện như đối với người thừa kế hay không?  Nếu là cá nhân, người được di tặng có cần phải là “đã thành thai trước khi người để lại di sản chết” hay không? Nếu là tổ chức thì tổ chức đó có phải “tồn tại vào thời điểm mở thừa kế” hay không? Sở dĩ phải đặt ra vấn đề này là do trong thực tế, có rất nhiều trường hợp người để lại di sản đã lập di chúc định đoạt một phần tài sản của mình với mục đích tặng cho các quỹ (quỹ học bổng, quỹ từ thiện…). Về vấn đề này, Điều 81 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định: quỹ là một tổ chức được thành lập vì “mục đích từ thiện, tôn giáo, khoa học, văn học hoặc những mục đích khác vì lợi ích công cộng chứ không phải vì mục đích chia lời”. Người để lại di sản có quyền lập di chúc giao trách nhiệm cho một người gây dựng một quỹ, hoặc tự mình trực tiếp hiến tài sản gây dựng các quỹ có mục đích nói trên (Điều 1676). Khi quỹ được gây dựng theo di chúc đã được lập như một pháp nhân, thì tài sản được người lập di chúc hiến cho mục đích thành lập quỹ đó được coi như thuộc về pháp nhân đó, kể từ khi di chúc có hiệu lực, trừ khi di chúc có quy định khác (Điều 1678). Nếu việc hiến này không thể thực hiện được, hoặc nếu quỹ đó không thể tồn tại vì sự tồn tại của nó trái với quy định của pháp luật, hoặc vi phạm trật tự công cộng hay trái đạo đức, thì việc sắp đặt theo di chúc đó sẽ vô hiệu (Điều 1679). Việc lập quỹ không được gây tổn hại đến quyền lợi của các chủ nợ của người để lại di sản (Điều 1680).BLDS Việt Nam chưa có quy định cụ thể về vấn đề này. Tuy nhiên, theo chúng tôi, người được di tặng dù không phải là người thừa kế, nhưng về bản chất họ là người được hưởng di sản theo sự định đoạt của người lập di chúc. Vì vậy, để được nhận di tặng, người được di tặng cũng phải thỏa mãn những điều kiện của người thừa kế được quy định tại Điều 635 BLDS năm 2005, cụ thể: người được di tặng là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người được di tặng là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.Để có cơ sở pháp lý giải quyết những trường hợp di tặng trong đời sống dân sự, theo chúng tôi, BLDS nên sửa đổi lại tên gọi cũng như thuật ngữ được sử dụng tại Điều 635 theo hướng thay thuật ngữ “người thừa kế” bằng thuật ngữ có tính khái quát cao hơn là “người được hưởng di sản”. Cụ thể: “Người được hưởng di sản là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người được hưởng di sản là cơ quan, tổ chức thì phải là cơ quan, tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.Với quy định này thì không chỉ những người thừa kế (theo di chúc hoặc theo pháp luật) mà cả những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc và những người được di tặng cũng cần phải thỏa mãn các điều kiện tối thiểu nói trên.Tương tự như vậy, để đảm bảo tính thống nhất giữa các điều luật cũng như tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng pháp luật trong thực tế, Điều 642 BLDS năm 2005 cũng nên thay cụm từ “người thừa kế” bằng cụm từ “người hưởng di sản”. Và để tránh dẫn đến cách hiểu: chỉ người thừa kế mới có quyền từ chối nhận di sản, còn người được di tặng không có quyền từ chối (khoản 1, Điều 642), chúng tôi đề nghị nên sửa Điều 642 như sau:1. Người hưởng di sản có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản.3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận di sản. 2. Những người có những hành vi quy định tại khoản 1 Điều 643 có được hưởng di tặng hay không? Khoản 1 Điều 643 BLDS quy định những người không được quyền hưởng di sản bao gồm: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản; c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng; d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.Theo chúng tôi, những người này cũng không được hưởng tài sản di tặng. Bởi vì, thông thường một người chỉ để lại tài sản để tặng cho người khác khi giữa họ và người được hưởng tài sản có mối quan hệ thân thiết nhất định. Người có tài sản muốn lưu giữ tình cảm tốt đẹp đó nên đã tặng một phần tài sản cho người được di tặng. Nếu người được di tặng lại có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản; hoặc lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản, thì người đó hoàn toàn không xứng đáng được hưởng di sản.Hơn nữa, tên gọi của Điều 643 là “Người không được quyền hưởng di sản” cũng đã thể hiện quan điểm này. Vì “người được hưởng di sản” bao gồm không chỉ là người thừa kế mà còn cả những người được di tặng. Do đó đương nhiên những người được di tặng nếu có những hành vi quy định tại khoản 1 Điều 643 sẽ không được hưởng di tặng.Khi nghiên cứu vấn đề này, chúng ta thấy sự cần thiết phải xem xét trong trường hợp người được di tặng không có quyền hưởng di sản (theo khoản 1 Điều 643), từ chối nhận di tặng, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người di tặng thì phần di chúc liên quan đến người này về thực chất là phần di chúc mất hiệu lực pháp luật. Mà phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật sẽ được áp dụng chia theo quy định của pháp luật cho những người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản. Tuy nhiên, đây mới chỉ là những suy đoán mang tính chủ quan, còn trên thực tế các văn bản pháp luật hiện hành vẫn chưa có quy định rõ ràng. Vì vậy, để tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết phần di sản này, theo chúng tôi, điểm c khoản 2 Điều 675 BLDS - quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật - cần được bổ sung theo hướng: “c. Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc, người được di tặng nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế”. 3. Trong trường hợp nào di tặng được dùng để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc?Khoản 2 Điều 671 quy định: “Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.Quy định này dường như đã đồng nhất giữa di sản chia thừa kế với di sản. Bởi vì: Di sản = phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc + phần di sản dành cho di tặng + phần di sản dùng vào việc thờ cúng + phần di sản chia thừa kế. Như vậy, di sản chia thừa kế chỉ là một thành phần của di sản. Chỉ trong trường hợp không có phần di sản dành cho người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng thì di sản chia thừa kế mới bằng di sản thừa kế. Nhưng quy định rằng: Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản, thì phải hiểu thế nào là “toàn bộ” di sản? Nếu hiểu theo công thức trên, thì “toàn bộ” di sản rõ ràng phải bao gồm cả di tặng. Nhưng nếu như “toàn bộ di sản” đã bao gồm cả di tặng, tức là cả di tặng cũng đã được đem ra thanh toán nghĩa vụ rồi, thì không thể có quy định: nếu “toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”. Như vậy, rõ ràng “toàn bộ di sản” được nói tới trong điều luật này không phải là “toàn bộ di sản thừa kế” mà chính xác phải là “toàn bộ di sản chia thừa kế”. Điều này đồng nghĩa với việc: nếu có nghĩa vụ tài sản thì phải dùng phần di sản chia thừa kế để thực hiện nghĩa vụ trước, nếu di sản chia thừa kế vẫn không đủ để thực hiện nghĩa vụ thì mới dùng phần di tặng. Trong trường hợp này, di tặng là phần di sản còn lại sau khi đã thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản và các chi phí khác liên quan đến thừa kế theo Điều 683. Vì vậy, để tạo cách hiểu thống nhất trong trường hợp trên, ta nên thay cụm từ “di sản” bằng “di sản chia thừa kế”. Cụ thể, khoản 2 Điều 671 nên được sửa đổi như sau: “Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản chia thừa kế không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”.Với quy định này, sẽ có một cách hiểu thống nhất là: di tặng chỉ được dùng để thực hiện nghĩa vụ khi toàn bộ di sản chia thừa kế không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc. Mặc dù, cùng là người được hưởng di sản của người chết để lại nhưng kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ của người để lại thừa kế trong phạm vi di sản được hưởng. Ngược lại, người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ đó. Chỉ trong trường hợp toàn bộ di sản chia thừa kế không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết để lại, thì phần tài sản là di tặng mới được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ tài sản còn lại này.  Vấn đề đặt ra trong trường hợp có cả di tặng và di sản dùng vào việc thờ cúng, thì phải dùng phần di sản nào để thanh toán nghĩa vụ tài sản trước? Di tặng hay phần di sản dùng vào việc thờ cúng?Có ý kiến cho rằng, do tính chất đặc biệt của phần di sản dùng vào việc thờ cúng - là sự biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, nếu xếp di sản dùng vào việc thờ cúng ngang với di sản chia thừa kế hay di tặng đồng nghĩa với việc “hy sinh truyền thống cổ xưa vì lợi ích của quyền tự do cá nhân”1. Chính vì vậy, trong trường hợp này, ta phải dùng phần di sản dành cho di tặng để thanh toán nghĩa vụ trước, nếu không đủ thì mới dùng đến di sản dùng vào việc thờ cúng.Ý kiến khác lại cho rằng, phải dùng di sản dùng vào việc thờ cúng để thanh toán nghĩa vụ trước, nếu không đủ mới dùng đến di tặng, bởi tài sản dành cho di tặng thường có ý nghĩa đặc biệt với người di tặng cũng như người được di tặng. Việc để lại di tặng thường nhằm mục đích làm kỷ niệm, lưu dấu một mối quan hệ tốt đẹp thân thiết giữa người di tặng với người được di tặng.Dung hòa cả hai ý kiến trên, ý kiến thứ ba cho rằng, trong trường hợp này chúng ta phải dùng cả di tặng cũng như di sản dùng vào việc thờ cúng để thanh toán. Việc cắt giảm hai phần di sản này sẽ được thực hiện theo tỷ lệ. Theo chúng tôi, ý kiến này là hợp lý hơn cả. Bởi theo quy định tại Điều 670 và 671 thì hai loại di sản này có địa vị pháp lý tương đối “cân bằng” nhau, bởi cơ sở để dùng hai loại di sản này để thanh toán nghĩa vụ đều là “toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó”. Hơn nữa, trong thực tế đời sống, rất khó lý giải nên dùng loại di sản nào để thanh toán trước trong trường hợp nói trên, vì điều này còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như: tính đa dạng của quan hệ pháp luật về thừa kế, mức chênh lệch về giá trị di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng, yếu tố tâm lý, sự khác nhau về phong tục tập quán giữa các vùng, miền trên cả nước. (1) Nguyễn Ngọc Điện (2001), Bình luận khoa học về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ, tr. 243. NGUỒN: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP
 
 
Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại :bồi thường thiệt hại trong tai nạn giao thông - rối rắm
HOÀNG YẾN
Theo luật, ôtô, xe máy là nguồn nguy hiểm cao độ và chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi.
Luật là vậy nhưng thực tiễn giải quyết các tranh chấp bồi thường thiệt hại do ôtô, xe máy gây ra ở các tòa, nhiều vướng mắc đã nảy sinh…
Để công bằng, cần quy định theo hướng nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì sẽ không được bồi thường?
Nhiều chuyên gia nhận xét việc xác định trách nhiệm bồi thường trong các tai nạn giao thông hiện nay có lẽ phức tạp, rắc rối chỉ sau các tranh chấp về đất đai. Thực tiễn xét xử đã chứng minh điều đó, khi rất nhiều bản án của tòa cấp dưới bị cấp trên hủy, sửa vì khác quan điểm vận dụng pháp luật.
Làm sao cho công bằng?
NVA ngụ quận 11 (TP.HCM) mua một chiếc xe tải nhẹ rồi cho B thuê xe theo một hợp đồng dài hạn. B thuê C lái xe để chở hàng hóa. Ngày 25-11-2010, C chạy xe trên đường một chiều đúng quy định. D đang đạp xe, do không rành đường, không để ý nên vô tình đi ngược chiều, đụng phải chiếc xe tải này và bị thương nặng.
Sau đó, D khởi kiện yêu cầu A. và B cùng liên đới bồi thường thiệt hại. Vụ việc đã làm phát sinh hai luồng quan điểm về hướng giải quyết.
Theo quan điểm thứ nhất, khoản 3 Điều 623 BLDS quy định trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi thì chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng phương tiện giao thông vận tải cơ giới cũng phải bồi thường. Trách nhiệm này chỉ được miễn trừ nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại. Như vậy A. (chủ sở hữu xe) và B (người được A. giao chiếm hữu, sử dụng xe) phải liên đới bồi thường cho D vì thiệt hại của D xảy ra không phải là do lỗi cố ý của D.
Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng người lái xe hoàn toàn không có lỗi trong vụ tai nạn nên không đủ yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Nếu tòa bắt A. và B phải liên đới bồi thường cho D sẽ không đảm bảo tính công bằng. Theo một thẩm phán TAND TP.HCM, quy định tại khoản 3 Điều 623 BLDS nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị thiệt hại, tránh việc chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng xe máy, ôtô thoái thác trách nhiệm bồi thường với lý do không có lỗi trong việc quản lý, sử dụng xe. Điều luật cũng đặt ra các trường hợp miễn trừ trách nhiệm là khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại hay thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác). Chẳng hạn một người bất ngờ lao vào ôtô tự tử thì chủ ôtô, người được giao chiếm hữu, sử dụng ôtô sẽ không phải bồi thường.
Tuy nhiên, pháp luật chưa bao quát được hết các tình huống xảy ra. Chẳng hạn tình huống chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng phương tiện không có lỗi trong việc quản lý, sử dụng phương tiện, người điều khiển phương tiện không có lỗi trong tai nạn nhưng thiệt hại xảy ra không phải do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì sao? Để công bằng, cần phải quy định theo hướng một khi chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng phương tiện, người điều khiển phương tiện không có lỗi thì không phải bồi thường.
Nhiều tình huống phức tạp
Một thẩm phán tòa quận ở TP.HCM đang nhức đầu với một vụ kiện đòi bồi thường vì tai nạn giao thông mà ông được giao giải quyết.
Theo hồ sơ, A và B biết C không uống được rượu. Nhằm thỏa mãn thú vui, A và B đã cưỡng bức C phải uống rượu cho đến khi C bị say mèm, mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Sau đó, C chạy xe máy của mình gây tai nạn làm một người đi đường bị thương.
Theo khoản 2 Điều 615 BLDS, người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường. Tuy nhiên, trong trường hợp này, C uống rượu đến say mèm là do bị cưỡng bức, vậy bắt C bồi thường có công bằng? Mặt khác, có thể xác định A và B là những người cùng gây ra thiệt hại để buộc cùng liên đới bồi thường theo quy định tại Điều 616 BLDS? Ở đây, họ chỉ ép C uống rượu chứ đâu có ép C chạy xe máy dẫn đến tai nạn?
Một thẩm phán khác cũng đang mệt mỏi với một vụ tai nạn giao thông mà cả bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại đều có lỗi bởi chưa có hướng dẫn để xác định mức độ lỗi.
Ngày 25-6-2010, ông P. say rượu chạy xe quá tốc độ, đụng phải bà E. đang cố ý đi ngược chiều cho tiện đường làm bà E. bị thương nặng. Theo Điều 617 BLDS, khi người bị thiệt hại cũng có lỗi thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình. Tuy nhiên, làm sao để xác định được chính xác mức độ lỗi của ông P., bà E. để đảm bảo “phần bồi thường tương ứng”?
Một vụ việc, bốn hướng giải quyết
Em NTL ngụ quận Tân Bình (TP.HCM), 14 tuổi, học lớp 9. Thời gian học tại trường, L. lẻn ra ngoài lấy xe máy của chú chạy, lấn trái gây tai nạn làm một người bị thương nặng. Khi giải quyết vụ đòi bồi thường của nạn nhân, tòa rất mệt mỏi bởi phải xác định trách nhiệm của nhiều bên với nhiều tình huống:
- Nếu người chú không có lỗi trong việc để cho em L. lấy xe, trường học có lỗi trong việc quản lý em thì trường học phải bồi thường.
- Nếu người chú không có lỗi trong việc để cho em L. lấy xe, trường học không có lỗi trong việc quản lý em thì cha mẹ hoặc người giám hộ của em phải bồi thường.
- Nếu người chú có lỗi trong việc để cho em L. lấy xe, trường học không có lỗi trong việc quản lý em thì người chú phải liên đới với cha mẹ hoặc người giám hộ của em để bồi thường.
- Nếu người chú có lỗi để cho em L. lấy xe, trường học cũng có lỗi trong việc quản lý thì người chú phải liên đới với trường học để bồi thường.
Thẩm phán phải bao quát
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một trong những trường hợp cụ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, được quy định trong Chương XXI Bộ luật Dân sự (từ Điều 604 đến 629).
Theo Bộ luật Dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 03 ngày 8-7-2006 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ bốn yếu tố:
1. Phải có thiệt hại xảy ra;
2. Phải có hành vi trái pháp luật;
3. Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật;
4. Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại.
Yếu tố thứ tư (phải lỗi của người gây thiệt hại) chỉ được loại trừ trong trường hợp pháp luật có quy định. Trong Bộ luật Dân sự hiện hành, duy nhất chỉ có trường hợp bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường (quy định tại Điều 624) là không cần yếu tố lỗi của người gây thiệt hại cũng có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường.
Thực tế, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ, trong đó có phương tiện giao thông vận tải cơ giới gây ra là khá rắc rối bởi các tình huống đa dạng, phức tạp. Khi giải quyết án loại này, thẩm phán cần phải có tầm nhìn bao quát, phải căn cứ vào đặc điểm của người gây thiệt hại, đối tượng bị xâm hại, tính chất lỗi vi phạm của các bên liên quan… để áp dụng những điều luật tương ứng thì mới có thể xác định được chính xác người phải bồi thường.
Một thẩm phán TAND Tối cao
SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM
 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 6 của 11
 

ls le trung son cr

Khách hàng

TƯ VẤN PHÁP LUẬT


DỊCH VỤ CUNG CẤP

trong nuoc

nn